văn học chữ hán và chữ nôm

Và nếu âm Hán Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi cố định cách đọc Hán Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) và chỉ có thể ra đời sau khoảng thế kỷ thứ 10 khi người Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với Thơ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, nổi bật có: "Việt âm thi tập". Đây là tuyển tập thơ đầu tiên ở Việt Nam, do ông Phan Phu Tiên (biên soạn). "Tân Việt âm thi tập"-Chu Sa biên soạn. Sách in năm 1459, gồm 6 tập.Tinh tuyển chư gia luật thi (còn gọi là "Tinh tuyển chư gia thi 494 Likes, 8 Comments - Quang Anh Dinh洸瓔 (@dinhqau) on Instagram: "Tuy không mê graffiti lắm nhưng tôi lại rất thích ngâm cứu bộ môn Thư pháp và phân tích Hán tự hay…" Chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau giữa văn học chữ nôm và chữ hán câu hỏi 1335970 - hoidap247.com Hoidap247.com - Hỏi đáp online nhanh chóng, chính xác và luôn miễn phí Bạn có thể đặt mua tại các nhà sách nhé! hình ảnh bảng tra hán tự. Bảng này bao gồm đầy đủ 214 bộ (mà một số đồng thời là chữ) được xếp theo từ điển Khang Hy: Trung Hoa năm 1716 (từ điển chữ Hán cổ và vĩ đại nhất) và năm 1945 chữ Hán thường dụng, theo qui Site De Rencontre Pour Sportif Gratuit. Trước khi tìm hiểu chữ Nôm, tìm hiểu sơ lược về chữ HánChữ Hán, hay Hán tự chữ Hán phồn thể 漢字, giản thể 汉字, Hán văn 漢文/汉文, chữ Trung Quốc là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc. Chữ Hán có nguồn gốc bản địa, sau đó du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt các quốc gia này, chữ Hán được vay mượn để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng nước. Tại Trung Quốc, trước thời nhà Tần, chữ Hán được gọi là văn 文 hoặc danh nhà Tần cho đến trước khi tên gọi Hán tự 漢字 chữ Hán trở nên phổ biến chữ Hán thường chỉ được gọi là văn 文, tự 字 hoặc văn tự 文字. Theo sách Thuyết văn giải tự 說文解字 do Hứa Thận biên soạn vào thời Đông Hán thì giữa văn 文 và tự 字 vốn là có sự phân công ý nghĩa, chứ không phải là hoàn toàn đồng nghĩa. Văn 文 là chỉ chữ tượng hình và chỉ sự, tự 字 là chỉ chữ hình thanh và hội ý. Về sau người ta không còn phân biệt văn 文 và tự 字 nữa, chữ viết dù thuộc loại gì cũng đều có thể gọi là văn 文 hoặc tự tên gọi dùng để chỉ chữ Hán đã nêu ở trên đều có nghĩa là chữ, chữ viết, chúng không phải là tên gọi chuyên chỉ chữ gọi Hán tự 漢字 xuất hiện sớm nhất là trong Kim sử, một bộ sách sử được biên soạn vào thời nhà Nguyên. Tuy nhiên khi đó Hán tự 漢字 không phải là một tên gọi phổ biến của chữ Hán. Chỉ cho đến thời cận đại tại Trung Quốc đại lục lịch sử Trung Quốc cận đại thường được tính là từ năm 1840 đến năm 1949 tên gọi Hán tự 漢字 mới dần dần được biết đến và sử dụng rộng dụ viết chữ Hán = chữ Nho, con Ngựa, viết 馬 phát âm là mã. Danh từ chữ nho được dùng để chỉ chữ Hán do người Việt dùng trong các văn bản ở Việt NômChữ có nghĩa là văn tự, Nôm có nghĩa là lời nói hay là Nam đối lập với Trung Quốc cả từ này có nghĩa là văn tự của lời nói hay văn tự của nước Nam, nó đối lập với văn tự chính thống chữ Nho = chữ Hán với ý nghĩa là văn tự của nhà Nôm thuộc loại hình văn tự khối vuông nghĩa là toàn bộ chữ được cấu tạo trong một ô vuông, được xây dựng trên cơ sở chất liệu là chữ Hán và được đọc theo âm dụ ChữNômviết 字 喃Viết theo chữ Hán còn gọi chữ Nho 國 音Viết theo chữ Quốc ngữ hiện nay Chữ NômHán ViệtTừ Hán-Việt là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếng Trung Quốc nhưng đọc theo âm Việt. Cùng với sự ra đời của chữ quốc ngữ, từ Hán-Việt ngày nay được ghi bằng ký tự thể bạn quan tâmKTM 2023 và 2022 có gì khác nhau?Mua cây Tùng La Hán giá bao nhiêuNAB 2023 có gì đặc biệt?Có bao nhiêu số tự nhiên gồm 4 chữ số đôi một khác nhau lập ra từ các chữ số 2;4 6;8Từ các chữ số 0 1 2 3 4 5 có thể lập được bao nhiêu số tự nhiên chia hết cho 5Điển hình bài thơ Hán ViệtSàng tiềnminhnguyệt quang,Nghi thị địa thượng đầu vọngminhnguyệt,Đê đầu tư cố ra tiếng Quốc NgữĐầu tường trăng sáng soi,Ngỡ là sương trên mặt đầu nhìn trăng sáng,Cúi đầu nhớ cố âm Pinyin tiếng TrungChuáng qián míng yuè guāngYí shì dìshàng shuāngJǔ tóu wàng míng yuèDītóu sī gùxiāngDịch ra tiếng AnhHead moon light,The mist is on the your head to look at the bright moon,Bow to dụ thêm 1 bài thơ nổi tiếng của Lý Thường Kiệt Nam Quốc Sơn HàViết theo tiếng Hán南國山河南 國 山 河 南 帝 居截 然 定 分 在 天 書如 何 逆 虜 來 侵 犯汝 等 行 看 取 敗 虛Phiên âm phát âm Hán-ViệtNam Quốc Sơn HàNam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên phận định tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại hưBản dịch của Trần Trọng Kim ra tiếng Quốc ngữSông núi nước NamSông núi nước Nam vua Nam ởRành rành định phận ở sách trờiCớ sao lũ giặc sang xâm phạmChúng bay sẽ bị đánh tơi thể nói, chiếm một góc trong vành đai văn hóa Hán nói trên là Việt Nam. Một mặt, Việt Nam ở vào vị trí giữa của vành đai văn hóa Đông Á, có hoàn cảnh rất giống Nhật Bản ở chỗ cùng là điểm mà nhiều dân tộc dừng chân lại. Mặt khác, trong điều kiện địa lý tiếp giáp với Trung Quốc rất chặt chẽ, trên lục địa, Việt Nam cũng có điểm khá giống với Triều Tiên. Một điều hiển nhiên nữa là Việt Nam cũng giống Triều Tiên, cả hai nước cùng chịu sự thống trị lâu dài về chính trị của Trung Quốc, và cùng nảy nở nền văn hóa độc lập. Nói về mặt ngôn ngữ, tiếng Nhật và tiếng Triều, khác với tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ mang tính đơn lập cao, chúng thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính ngôn ngữ Altai. Cả hai ngôn ngữ này đều khó tiếp thu sự đồng hoá ngôn ngữ một cách triệt để. Trong khi đó, tiếng Việt cùng loại hình ngôn ngữ với tiếng Trung Quốc, nguy cơ đồng hoá ngày có nét khác hơn. Lịch sử văn tự này có nét rất đặc trưng. Nó chịu sự chi phối của Trung Quốc vào năm 111 trước CN, trong vòng 840 năm, kể từ khi chữ Hán trở thành văn tự chính thức bắt đầu từ lúc có chế độ khoa cử 1075, cho đến khi không còn chế độ khoa cử vào năm 1915 miền Trung 1918, chữ Hán với tư cách là văn tự chính thức, Hán văn trở thành văn chương chính thức ở nước này. Tức là đối với trí thức Việt Nam, việc thông hiểu Hán văn tiếng Trung Quốc là điều kiện không thể thiếu được. Có thể nói đó là việc quan trọng hơn việc thông thạo tiếng mẹ đẻ. Và thế là biết chữ thực tế không có gì khác là biết chữ cầu ghi lại tiếng nói dân tộc Cũng giống như người Nhật, người Triều Tiên, trong một bộ phận tầng lớp trí thức này sinh nhu cầu muốn ghi lại tiếng nói dân tộc. Lúc này, người Việt cũng giống như người Nhật nảy sinh ý nghĩ thử ghi lại tiếng nói dân tộc bằng cách dùng chữ Hán vốn đã có bên cạnh mình và gia công thêm một chút. Đó là việc nảy sinh văn tự gọi là chữ Nôm xuất hiện ở Việt Nam khi chữ Hán đã vào Việt Nam và đã được hình thành một cách có hệ thống âm Hán Việt, nên ban đầu chữ Nôm thuần túy ghi âm Việt. Dần dần có những chữ Hán không ghi được âm Hán Việt cho nên các chữ Nôm sáng tạo được ra đời. Khi ý nguyện sáng tạo ra một dạng chữ riêng của người Việt trở nên mạnh mẽ hơn trong thời Lê, những chữ Nôm được tạo ra một cách có ý thức hơn đã giúp cho sự hình thành thêm nhiều chữ Nôm mới đủ để biểu đạt được tâm tư, nguyện vọng, tâm hồn và khí phách dân tộc trong các tác phẩm văn chương như thơ, phú, chiếu, cáo, biểu sáng tạo đó đã để lại cho đời sau những di sản thơ Nôm vô giá từ những bài thơ của Nguyễn Hàn Thuyên đến Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, từ Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông đến Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ Đại Nam quốc sử diễn ca đến Đoạn trường tân thanh; từ những bài thất ngôn bát cú thơ Nôm của Hồ Xuân Hương đến dạng song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, thơ lục bát với Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Rồi thơ của Nguyễn Khuyến, Tú Xương và không ít những tác phẩm Nôm khuyết danh như Thạch Sanh, Trê Cóc, Nhị độ mai, Tấm Cám, Lưu Bình Dương Lễ Nôm được dùng song song với chữ Hán cho đến thế kỷ 16, khi các nhà truyền đạo phương Tây vào Việt Nam, họ đã dùng ký tự Latinh để phiên âm tiếng Việt, và chữ Quốc ngữ bắt đầu ra đời. Chữ Quốc ngữ bằng kýtự La Tinh dần dần thay thế chữ Hán Nôm do sự đơn giản dễ nhớ dễ học, thêm nữa, chữ Quốc ngữ tỏ ra hữu dụng khi phiên âm được các dấu thanh trong tiếng Việt. Chữ Nôm còn được dùng cho tới cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nhưng ngày càng suy yếu trước sự bành trướng của chữ Quốc sản này hiện nay có nguy cơ tiêu vong. Sau khi chữ Quốc ngữ dùng mẫu tự Latinh phổ biến vào đầu thế kỷ 20, chữ Nôm dần dần mai một. Năm 1920, chính quyền thực dân Pháp ra lệnh cấm dùng chữ Nôm. Khi tiến trình Âu hóa ngày càng trở nên mạnh mẽ và được sự cổ súy của thủ lĩnh các phong trào duy tân đương thời, chữ Quốc ngữ đã trở nên phổ biến và khẳng định chỗ đứng của nó trong hệ thống văn tự mới của dân tộc theo mô hình phương Tây, thoát khỏi ảnh hưởng của phương Bắc. Đỉnh cao của chữ Quốc ngữ với Thơ mới và Tự lực văn đoàn đã trở thành sự cáo chung đối với văn tự truyền nay, ở Việt Nam và thế giới rất ít người còn đọc được văn bản chữ Nôm từ nguyên tác. Một phần quan trọng của lịch sử Việt Nam đã nằm ngoài tầm tay của 95 triệu người nói tiếng Quốc ngữ ra đời tuy đơn giản, dễ nhớ dễ học. Tuy nhiên, có nhiều từ Việt bị dùng sai, nhưng do dùng lâu quen và do đó từ sai trở thành từ đúng ví dụ khốn nạn. Và cũng chính vì việc từ khi sử dụng chữ Quốc ngữ không tiếp tục giảng dạy và học chữ Hán Nôm đã làm cho những thế hệ người Việt ngày nay không còn biết đến chữ Hán Nôm nữa, và không thể đọc được những tư liệu sách vở trong kho di sản Hán Nôm ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Chính vì điều đó mà ít có thế hệ người Việt sau này có thể hiểu rõ và dùng đúng tiếng Việt như nghĩa thật sự của nó vì khoảng 70% tiếng Việt được hình thành từ tiếng Hán-Việt.Chữ Nôm được đặt ra cũng còn để thỏa mãn nhu cầu quân sự và chính trị. Căn bản là chữ viết nhìn thì giống như chữ Hán nhưng phát âm và ý nghĩa thì hoàn toàn khác. Do đó khi Trung Quốc muốn tìm hiểu Việt Nam để mưu đồ xâm lăng, họ sẽ phải học thuần tiếng Nôm để thông thạo tình hình và đả thông các văn chung chữ Nôm thường có nhiều nét hơn, phức tạp hơn chữ Hán do phần lớn là những chữ buộc phải ghép 2 chữ Hán lại nên khó nhớ hơn cả chữ Hán vốn cũng đã khó nhớ. Cách đọc cũng có khi không thống nhất hoặc một chữ có thể có nhiều cách đọc, nên có người nói rằng "chữ Nôm phải vừa đọc vừa đoán". Ngoài ra, việc "tam sao thất bản" là khó tránh khỏi, phần vì trình độ người thợ khắc chữ ngày xưa, phần vì khâu in mộc bản có chất lượng không cao chữ bị nhòe, mất nét.Đó là những hạn chế của ông cha, với một lịch sử không thể thay đổi mà dân tộc ta phải chấp nhận, để lại xúc cảm ngậm ngùi cho mỗi con dân Việt khi nhìn sang tiến trình bản địa hóa một cách có chọn lọc văn tự của Trung Hoa của những quốc gia đồng văn như Nhật Bản, Triều Tiên, những quốc gia đã thành công trong việc giản hóa chữ Hán thành những ký hiệu biểu âm thuận tiện khi sử dụng hơn rất nhiều. Đặc biệt là Triều Tiên với hệ thống 23 ký tự hết sức khoa học và dễ sử dụng do Hoàng đế Sejong sáng tạo đủ sức biểu đạt tư duy ngôn ngữ của dân tộc hoàn toàn không cần phải sử dụng các thành tố chữ hợpTài liệu biên khảo 5Kinh Dương Vương vua của nước Xích QuỷAn Dương Vương Thục Phán nước Âu LạcTriệu Đà nước Nam Việt rộng lớn6 điều bí mật về phụ nữ thời La Mã cổ đại7 vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử7 điểm tộc Dayak giống người Việt cổ trên đảo Borneo316 Năm Vương Triều ĐẠI LÝ 22 Đời Vua Họ ĐOÀN900 Năm Triều Đại Nhà CHU Dài Nhất Lịch Sử TQ Giải Mã Qúa Trình Nhà TẦN Thôn Tính Nhà CHU1500 Năm Hình Nước ĐỨCAi Cập Cái nôi của nền văn minh nhân loạiAlexander Đại đế Có ước mơ trở thành một chiến binh anh hùngChuyện về Phạm Ngũ Lão và Mạc CửuChữ Nôm là gì? Chữ Hán. Hán ViệtDANH TƯỚNG VÕ TÁNHDanh sách các tướng lĩnh thời Hai Bà Trưng của nhà nước Lĩnh NamHồ Động Đình- hồ nước linh thiêng trong huyền sử Việt + Lưỡng Quảng ngày nayCuộc đời Mahatma GandhiCó phải tại Trung Quốc vẫn còn đền thờ Hai Bà Trưng và quân tướng Lĩnh Nam ?Bách Việt là ai ? Hán & Bách ViệtDiện tích nước Việt cổ xưa rộng như thế nào? Lịch sử Việt NamDanh tướng Trần Khát ChânDương Diên Nghệ 874 937Dân tộc Mãn ChâuHịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Áng văn bất hủHồ Động Đình- hồ nước linh thiêng trong huyền sử ViệtHùng ca sử Việt-Lý thường KiệtHùng Ca Sử Việt Quang Trung và Vùng Đất Lưỡng QuảngHoàng hậu Theodora, phụ nữ quyền lực bậc nhấtGiải mã bí ẩn Lăng vua Tự Đức công trình Lăng Tẩm đẹp nhất xứ HuếKhảo sát Tiếng Việt quyến rũ thứ nhì châu ÁKhám phá Nhật Bản và 7 thời kỳ Nhật BảnKhởi nghĩa Lam Sơn Lê Lợi Chống quân Tàu nhà MinhLịch Sử 13 Triều Vua Nhà THANH 276 Năm Thịnh Suy Trong Lịch Sử Trung QuốcLịch sử Iran lịch sử Ba TưLịch sử SingaporeLịch sử Hong KongLịch sử Hàn QuốcLịch sử Nhật Bản & 8 VIDEOS Lịch sử Thái LanLịch sử Đài LoanLỊCH SỬ PHI LUẬT TÂNLịch Sử Campuchia Cao Miên Quốc 2000 Năm Lịch SửLý do suy sụp của siêu đô thị cổ đại AngkorNhân Tông Trần Khâm Đức Phật giữa hoàng triềuMạnh Thường QuânMông Cổ MongoliaMai Hắc Đế Mai Thúc LoanNguồn gốc chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ là công trình sáng tạo của cả một tập thểNgười Kinh ở Trung QuốcNguyên nhân dẫn tới Chiến tranh thế giới lần thứ nhấtPhùng Hưng 761-802Sau ngàn năm Bắc thuộc, tại sao Việt Nam không bị nhập vào Trung Quốc?Thế giới hiện nay có tổng cộng 204 quốc gia. Top 10 quân đội mạnh nhất thế giớiTiếng Quan Thoại Mandarin và tiếng Quảng Đông Cantonese được nói ở đâu?Tại sao có quốc gia nghèo, quốc gia giàu? Nước giàu, nước nghèo?Tổng Thống Đầu Tiên Của Hoa Kỳ George WashingtonTóm tắt nhanh lịch sử các triều đại Trung QuốcTrận đánh lớn nhất của Thành Cát Tư Hãn. Nhà Kim. Đại Liệu Khiết Đan bị diệt vongTRƯƠNG MINH GIẢNG ?-1841 TỔNG ĐỐC THỨ HAI TỈNH AN GIANGTứ Đại Mỹ Nhân Việt Nam Công chúa Huyền Trân, An Tư, Ngọc Hân và Lý Chiêu HoàngThiên Ninh Công Chúa Đóa Huyết Hoa Nhà TrầnThuyết Minh Việt Ngữ Phát biểu của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tại nhà máy Whirlpool, tiểu bang OhioViệt Nam không hề đánh chiếm Thủy Chân LạpTài liệu biên khảo 2Quốc khánh Hoa Kỳ Vì sao xã hội Mỹ không hoàn hảo nhưng luôn tốt hơn?Những giá trị Mỹ và cộng đồng gốc Việt10 sự thật về Hy Lạp cổ đạiFukuzawa Yukichi với khuyến học thời 1834 1901TN InfoWay Xa Lộ Thời NayHome Trang Shopping NetworkHotel Reservations Find The Best Hotel DealsBusiness NewsGiải tríLƯU DIỆU VÂN Poet, Translator, and EditorÂm nhạcÂm nhạc Thơ nhạc Hồng ThúyDu lịch thế giới Khám pháChuyện lạ Bạn đọc biếtCuộc sống khắp nơi Chia sẻHình ảnhĐời sốngHọc tiếng Anh mỗi ngàyTập thể thao hàng ngày Thân hình đẹp và khỏe AerobicsDanh ngôn Lời hay ý đẹpGia chánhKinh tế Quản trị Khởi nghiệpLàm đẹpTình yêu Hôn nhân Gia đình Chữ Nôm 字喃 hay còn được gọi là quốc âm, là một hệ chữ ngữ tố được dùng để viết tiếng Việt được tạo ra dựa trên cơ sở là chữ Hán. Nó bao gồm các từ Hán Việt và một hệ thống các từ vựng mới khác được tạo ra dựa vào vận dụng phương thức tạo chữ hình thanh, hội ý, giả tá của chữ Hán. Chữ nôm là gì? Phân biệt khái niệm chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữChữ Nôm là gì?Chữ HánChữ quốc ngữChữ Nôm khác chữ Hán như thế nàoNguồn gốc và diễn biến phát triển của chữ nômNhững cách tạo ra chữ NômCách viết chữ Nôm như thế nào?Các phần mềm viết chữ Hán NômChữ Nôm của các dân tộc, quốc gia khác Chữ nôm là gì? Phân biệt khái niệm chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ Chữ Nôm là gì? Cả hai từ “chữ” và “Nôm” trong chữ Nôm đều là các từ Hán Việt cổ. Trong đó từ chữ bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán của chữ tự 字. Còn từ “Nôm” bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán của chữ nam 南. Như vậy, ý tên gọi chữ Nôm là thứ chữ dùng để ghi chép tiếng nói của người phương Nam, tức là người Việt. Vậy thì chữ Nôm là loại chữ gì? Chữ Nôm là hệ thống văn tự ngữ tố dùng để viết tiếng Việt, được tạo ra dựa trên cơ sở là chữ Hán. Nó bao gồm các từ Hán Việt và một hệ thống các từ vựng khác được tạo ra dựa vào việc vận dụng phương thức tạo chữ hình thanh, giá tả, hội ý của chữ Hán để tạo ra các chữ mới bổ sung cho việc viết. Cũng như việc biểu đạt các từ thuần Việt không có trong bộ chữ Hán ban đầu. Chữ Hán Chữ Hán hay còn gọi là Hán tự là chữ Trung Quốc. Trong chữ Hán bao gồm có 2 loại Chữ Hán cổ phồn thể và chữ Hán hiện đại chữ giản thể. Đây là một dạng chữ viết biểu ý của Trung Quốc sau đó đã du nhập vào các nước lân cận như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Từ đó tạo nên vùng văn hóa chữ Hán, tại các nước này chữ Hán được vay mượn để tạo nên ngôn ngữ mới cho mỗi nước. Trong các văn bản ở Việt Nam, chữ người Việt dùng được gọi là chữ Nho, tức là chữ Hán cổ. Tuy nhiên, người Việt không phát âm chữ Hán như người Trung Quốc bằng cách dùng Pinyin để đọc. Mà người Việt đọc bằng âm Hán Việt, đây là một sáng tạo mới trong việc củng cố phát âm chữ Hán của người Việt. Chữ quốc ngữ Chữ Nôm và chữ quốc ngữ là hai hệ chữ dùng để viết tiếng Việt, tuy nhiên chúng có những vai trò khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cũng như văn hóa của người Việt. Chữ quốc ngữ được các nhà truyền giáo Dòng Tên tại Việt Nam sáng tạo dựa trên các ký tự Latin vào nửa đầu thế kỷ 17, tuy nhiên tại thời điểm này hệ chữ này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi. Đến thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa thực hiện chế độ đồng hóa nhân dân ta nên đã hạn chế ảnh hưởng của Hán học cùng chữ Hán. Từ đây, sự suy giảm của chữ Hán của dẫn đến sự giảm sút của chữ Nôm. Cũng từ đó, chữ quốc ngữ đã được dùng làm văn tự thay thế để viết tiếng Việt. Trong giai đoạn đầu, bất chấp việc chính quyền Pháp làm mọi cách ngăn cản việc học chữ trong nhân dân. Các sĩ phu yêu nước vẫn vận động ủng hộ chữ quốc ngữ trong các phong trào phổ biến tân học và lan truyền tư tưởng yêu nước. Ngay nay, tiếng Việt được viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ. Trong đó có rất ít người có thể đọc viết được chữ Nôm. Chính điều này đã dẫn đến nhiều người cho rằng chữ quốc ngữ đã làm lu mờ vị thế của chữ Nôm. Tuy nhiên thì hai hệ chữ này không loại trừ nhau, nghĩa là người ta vẫn có thể học đồng thời cả hai hệ chữ vẫn được. Chữ Nôm khác chữ Hán như thế nào Để phân biệt chữ Hán và chữ Nôm rất đơn giản. Chữ Hán là ngôn ngữ của người Trung Quốc, ngày xưa nó còn được gọi là chữ Nho, tức là chữ dùng để dạy cho đạo. Bên cạnh đó còn được gọi với các tên khác là chữ Hoa, chữ Trung hay chữ Tàu. Còn chữ Nôm là chữ do người Việt ngày xưa sáng tạo để viết tiếng Việt và một phần của chữ Nôm được tạo ra dựa trên chữ Hán. Nguồn gốc và diễn biến phát triển của chữ nôm Về nguồn gốc của chữ Nôm có rất nhiều giải thiết trong lịch sử về chữ Nôm có từ bao giờ, chữ Nôm ra đời khi nào. Nhưng theo các nhà nghiên cứu căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt. So sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới khẳng định âm Hán Việt âm của người Việt đọc chữ Hán ngày nay bắt nguồn từ thời Đường-Tống thế kỷ 8-9. Tức sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939. Chữ Nôm lần đầu tiên được sử dụng làm chữ quốc ngữ để diễn đạt tiếng Việt qua mẫu tự biểu ý dùng để chỉ cách gọi địa danh hoặc các khái niệm không có trong Hán văn. Sau đó từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 20 một phần lớn các tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, tôn giáo, hành chính đều được viết bằng chữ Nôm. Trong khoảng 10 thế kỷ, chữ Nôm là công cụ thuần Việt ghi lại lịch sử văn hóa của dân tộc ta, mặc dù nó vẫn chưa chứng tỏ được tính hữu hiệu và phổ biến so với chữ Hán. Hệ chữ viết này dần dần mai một sau khi chữ quốc ngữ được phổ biến vào đầu thế kỷ 20. Ngày nay, trên thế giới còn rất ít người đọc được chữ Nôm, tưởng chừng như một giai đoạn lịch sử Việt Nam đang dần bị xóa mờ trong tâm trí của các thế hệ người Việt Nam sau này. Những cách tạo ra chữ Nôm Về cách tạo ra chữ Nôm, cấu tạo của chữ Nôm Mượn cả âm và nghĩa của chữ Hán Mượn cả âm Hán Việt và nghĩa của chữ Hán để ghi lại các từ Hán Việt. Âm Hán Việt có ba loại là – Âm Hán Việt tiêu chuẩn Có nguồn gốc từ ngữ âm tiếng Hán thời Đường. Ví dụ Thuận lợi /順利/, công thành danh toại /功成名遂/ – Âm Hán Việt cổ Có nguồn gốc từ ngữ âm tiếng Hán trước thời Đường. Ví dụ Bay /飛/, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phi”; buồng /房/, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phòng”. – Âm Hán Việt Việt hoá Là các âm gốc Hán bị biến đổi cách đọc do ảnh hưởng của quy luật ngữ âm tiếng Việt. Ví dụ Nhà /家/, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “gia”. Mượn âm chữ Hán, không mượn nghĩa Mượn âm chữ Hán không mượn nghĩa tức là mượn các từ Hán đồng âm hoặc cận âm để ghi âm tiếng Việt. m mượn có thể là một trong ba âm nói trên, khi đọc có thể đọc giống với âm mượn hoặc đọc lệch đi. Ví dụ – Đọc giống như âm Hán Việt tiêu chuẩn Chữ “một” 沒 có nghĩa là “chìm” được mượn dùng để ghi từ “một” trong “một mình”, Chữ “tốt” 卒 có nghĩa là “binh lính” được mượn dùng để ghi từ “tốt” trong “tốt xấu”, – Đọc chệch âm Hán Việt tiêu chuẩn Gió /這/ mượn âm “giá” Cửa /舉/ mượn âm “cử” Đêm /店/ mượn âm “điếm” Chạy /豸/ mượn âm “trãi” – Đọc giống như âm Hán Việt cổ Chữ “keo” /膠/ trong “keo dán”, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “giao” được dùng để ghi lại từ “keo” trong “keo kiệt”, Chữ “búa” /斧/ trong “cái búa”, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phủ” được dùng để ghi lại từ “búa” trong “chợ búa” . Mượn nghĩa chữ Hán, không mượn âm Trái ngược với mượn âm không mượn nghĩa, mượn chữ Hán đồng nghĩa hoặc cận nghĩa để ghi lại âm tiếng Việt. Ví dụ Chữ “dịch” 腋 có nghĩa nghĩa là “nách” được dùng để ghi lại từ “nách” trong “hôi nách”, Chữ “năng” 能 có nghĩa là “có tài, có năng lực” được dùng để ghi lại từ “hay” trong “văn hay chữ tốt”. Tạo chữ ghép Tạo chữ ghép hay còn gọi là chữ hợp thể là chữ được tạo ra bằng cách ghép hai hoặc nhiều hơn chữ khác thành một chữ. Và các chữ cấu thành nên chữ ghép có thể đóng vai trò là thanh phù hoặc nghĩa phù hoặc đồng thời cả thanh phù và nghĩa phù. Chúng cũng có thể được viết nguyên dạng hoặc viết tỉnh lược đi mất một phần hoặc thay bằng chữ giản hóa. Thanh phù luôn có âm đọc giống hoặc gần giống với âm đọc của chữ ghép. Một số ví dụ về chữ ghép “Chân” /蹎/, chân trong “chân tay” được cấu thành từ chữ “túc” 足 và chữ “chân” 真. “Túc” 足 có nghĩa là “chân” được dùng làm “nghĩa phù” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. Tuy nhiên, chữ “túc” 足 khi đứng ở bên trái phải viết dưới dạng biến thể gọi là “bàng chữ túc” ⻊. Còn chữ “chân” 真 trong “chân thành” đồng âm với “chân” trong “chân tay” được dùng làm thanh phù biểu thị âm đọc của chữ ghép. “Khói” được cấu thành từ chữ “hỏa” 火 và chữ “khối” 塊 bị tỉnh lược bộ “thổ” 土 ở bên trái chữ “khối” 塊. “Hỏa” 火 có nghĩa là lửa, gợi ý nghĩa của chữ ghép lửa cháy tạo ra khói, còn chữ “khối” 塊 gợi âm đọc của chữ ghép. “Trời” được cấu thành từ chữ “thiên” 天 có nghĩa là “trời” và chữ “thượng” 上 có nghĩa là “trên”, ý là “trời” thì nằm ở trên cao. Trong tiếng Việt hiện đại, không có phụ âm kép nhưng trong tiếng Việt từ giai đoạn trung đại trở về trước thì có phụ âm kép. Trong chữ Nôm hợp thể, để biểu thị các phụ âm kép thì người ta dùng một hoặc hai chữ làm thanh phù. Còn dùng hai chữ làm thanh phù thì một chữ sẽ dùng để biểu thị phụ âm thứ nhất của phụ âm kép, còn chữ còn lại biểu thị phụ âm thứ hai của phụ âm kép. Các vị dụ như “blăng” Từ này hiện nay đã biến đổi thành “trăng, giăng”. Chữ “blăng” được cấu thành từ chữ “ba” 巴, chữ “lăng” 夌 và chữ “nguyệt” 月. “Ba” 巴 biểu thị phụ âm thứ nhất “b” của phụ âm kép “bl”, “lăng” 夌 biểu thị phụ âm thứ hai “l” và phần vần của từ “blăng”, “nguyệt” 月 có nghĩa là “mặt trăng” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép này. “tlòn” Chữ này hiện nay đã biến đổi thành “tròn”. Chữ “tlòn” được cấu thành từ chữ “viên” 圓 bị tỉnh lược bộ “vi” 囗 ở phía ngoài thành “員” và chữ “lôn” 侖. “Viên” 圓 có nghĩa là “tròn” được dùng làm nghĩa phù. “Lôn” 侖 là thanh phù, biểu thị phụ âm thứ hai “l” của phụ âm kép “tl” và phần vần của từ “tlòn”. Lược bớt nét của chữ Hán để đọc chệch đi Lược bớt ít nhất là một nét của một chữ Hán nào đó để gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này phải đọc chệch đi. Ví dụ Chữ “ấy” Được tỉnh lược nét chấm “丶” trên đầu chữ “ý” 衣. Việc lược bớt nét bút này gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này không đọc là “y” hay “ý” mà cần đọc chệch đi. Mượn âm của chữ Nôm có sẵn Dùng chữ Nôm có sẵn để ghi lại từ tiếng Việt đồng âm hoặc cận âm nhưng khác nghĩa hoặc đồng nghĩa nhưng khác âm với các chữ đi mượn. Khi đọc có thể đọc giống với âm của chữ được mượn hoặc đọc chệch âm đi. Ví dụ – Đọc giống với âm đọc của chữ được mượn Chữ “chín” trong “chín người mười ý được dùng để ghi từ “chín” trong “nấu chín”. – Đọc chệch âm Chữ “đá” trong “hòn đá” được dùng để ghi từ “đứa” trong “đứa bé”. Chữ Nôm có 37 ký tự và một số quy tắc viết nhất định. Do đó bất cứ ai cũng có thể học nó trong vài ngày, thậm chí đối với vài người chỉ mất vài giờ. Việc học và viết chữ Nôm Việt Nam là làm sống lại chữ Hán Việt trong Tiếng Việt của chúng ta. Nếu bất cứ ai viết và hiểu được 40% vốn từ Hán Việt thì xem như đã tiếp xúc với quá khứ của dân tộc qua chữ viết. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tiếng Hoa, Nhật, Hàn vì tiếng Nhật và Hàn cũng như tiếng Việt, trên 50% là Hán Tự nên việc học những tiếng này cũng dễ hơn rất nhiều. Về cách học chữ Nôm, trong trường hợp ta viết các từ Hán Việt thì nên dùng các từ ghép. Vì nếu sử dụng được 1000 từ ghép có chọn lọc, có nghĩa là ta biết tối thiểu 1500 từ Hán do đó việc nghiên cứu vào kho Hán Nôm xưa là có cơ sở. Sau khi nếu được sử dụng được tương đối nhuần nhuyễn, ta nên đưa vào khoảng 100 từ đơn xem như bất quy tắc để cho khi viết hình thức sẽ trở nên phong phú và hay hơn. Các phần mềm viết chữ Hán Nôm Hiện nay có rất nhiều phần mềm máy tính tạo ra ký tự chữ Nôm bằng cách gõ chữ quốc ngữ. Một số ứng dụng mà có thể chạy trên hệ điều hành Windows các bạn có thể tham khảo như HanNomIME là phần mềm chạy trên Windows hỗ trợ cả chữ Hán và chữ nôm. Vietnamese Keyboard Set hỗ trợ gõ chữ Nôm và chữ Hán trên Mac OS X. WinVNKey là bộ gõ đa ngôn ngữ trên Windows hỗ trợ gõ chữ Hán và chữ Nôm bằng âm Quốc ngữ. Weasel Hannom là bộ gõ của Ủy ban phục sinh Hán Nôm được xây dựng trên cơ sở bộ gõ Weasel. Phông chữ Nôm nằm trong cơ sở dữ liệu Unihan. Viet Unicode là phông Unicode chứa các ký tự chữ Nôm nó là phông TrueType có thể tải về từ trên các trang web. Chữ Nôm của các dân tộc, quốc gia khác Chữ Nôm của các dân tộc Việt Nam Ở Việt Nam, ngoài dân tộc Kinh thì còn có một vài dân tộc thiểu số khác như Tày, Dao, Ngạn cũng có chữ Nôm riêng dựa trên chữ Hán để lưu lại ngôn ngữ của dân tộc họ. Chữ Nôm của các nước khác Theo như cách diễn giải của người xưa, thì chữ Nôm là chữ của người phương Nam. Tuy nhiên, nếu mở rộng khái niệm này ra cho tất cả các hệ chữ được sáng tạo dựa trên chữ Hán. Thì còn có những chữ của các dân tộc phương bắc như Nhật Bản là chữ Nôm Nhật và Triều Tiên là chữ Nôm Triều. Ngoài ra còn có chữ Nôm của các dân tộc thuộc Trung Quốc như Tráng, Đồng,… Kokuji trong hệ thống chữ Kanji của người Nhật cũng được tạo ra từ chữ Hán để ghi lại những từ, khái niệm riêng trong tiếng Nhật. Ví dụ như 畑 hatake = 火 hoả + 田 điền, nghĩa là cánh đồng khô, để phân biệt với 田 là ruộng trồng lúa nước; 瓩 kiloguramu = 瓦 ngoã + 千 thiên, nghĩa là kílô-gam. >>>Xem thêm 214 bộ thủ Kanji cơ bản trong tiếng Nhật – Cách viết và phương pháp học Tương tự Kokuji của Nhật Bản, người Triều Tiên cũng dùng chữ Hán để tạo thành một số chữ biểu ý riêng trong hệ thống Hanja của họ. Ví dụ nhu 畓 dap = 水 thuỷ + 田 điền, nghĩa là ruộng nước, để phân biệt với 田 là đồng khô; 巭 bu = 功 công + 夫 phu, nghĩa là người lao động. Trên đây là những chia sẻ của Hicado về chữ Nôm là chữ gì và giải thích chữ Nôm ra đời khi nào, vào thời nào. Hy vọng qua bài viết này, bạn sẽ có thêm nhiều kiến thức mới về hệ chữ Nôm cũng như lịch sửa của nước ta. Chữ Nôm 字喃, còn gọi là Quốc âm chữ Hán 國音, là một hệ chữ ngữ tố từng được dùng để viết tiếng Việt, gồm các từ Hán-Việt và các từ vựng khác. Nó bao gồm bộ chữ Hán tiêu chuẩn và các chữ khác được tạo ra dựa theo quy tắc. Chữ Nôm là gì? Định nghĩa Cả hai từ “Chữ” và “Nôm” trong chữ Nôm đều là từ Hán Việt cổ. Từ chữ bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của chữ “tự” 字 có nghĩa là chữ. Từ “Nôm” bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán trung cổ của chữ “nam” 南 có nghĩa là phía nam. Ý của tên gọi chữ Nôm là đây là thứ chữ dùng để ghi chép tiếng nói của người phương Nam tức người Việt, xưa kia người Việt tự xem mình là người phương Nam, còn người Trung Quốc là người phương Bắc. Tên gọi chữ Nôm khi viết bằng chữ Nôm có thể viết bằng rất nhiều cách khác nhau 字喃,(⿰字宁)喃,(⿰字守)喃,喃,茡喃,芓喃,(⿰字文)喃,喃,佇喃,宁喃 字諵,(⿰字宁)諵(⿰字守)諵,諵,茡諵,芓諵,(⿰字文)諵,諵,佇諵,宁諵 Một trang từ cuốn Nhật dụng thường đàm chữ Nôm 1851. Vậy còn Chữ Nho là gì? Danh từ chữ Nho được dùng để chỉ chữ Hán do người Việt dùng trong các văn bản ở Việt Nam. Các quan điểm về sự hình thành của chữ Hán Nôm Cách cấu tạo chữ Nôm có thể đã manh nha ló dạng từ những năm đầu khi người Hán chinh phục đất Giao Chỉ Miền Bắc Việt Nam và đặt nền đô hộ trên các bộ lạc người Việt vào đầu Công Nguyên. Vì ngôn ngữ khác biệt, những “chữ Nôm” đầu tiên xuất hiện vì nhu cầu ghi địa danh, tên người hoặc những khái niệm không có trong Hán văn. Song chứng cứ còn lưu lại hết sức ít ỏi, khó kiểm chứng được một cách chính xác. Phạm Huy Hổ trong “Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào?” thì cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vương. Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San lại cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2. Nguyễn Văn Tố dựa vào hai chữ “bố cái” trong danh xưng “Bố Cái đại vương” do nhân dân Việt Nam suy tôn Phùng Hưng mà cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng thế kỷ thứ 8. Ý kiến khác lại dựa vào chữ “cồ” trong quốc hiệu “Đại Cồ Việt” 大瞿越 để cho rằng chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng. Trong một số nghiên cứu vào thập niên 1990, các học giả căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới kết luận rằng âm Hán Việt âm của người Việt đọc chữ Hán ngày nay bắt nguồn từ thời nhà Đường-nhà Tống thế kỷ 8-9. Và nếu âm Hán Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi cố định cách đọc Hán Việt nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự và chỉ có thể ra đời sau khoảng thế kỷ thứ 10 khi người Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938. Về văn bản thì khi tìm chứng tích trước thời nhà Lý, văn tịch hoàn toàn không lưu lại dấu vết chữ Nôm nào cả. Sang thời Lý thì mới có một số chữ Nôm như trong bài bi ký ở chùa xã Hương Nộn, huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ tạc năm 1173 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 11 hay bia chùa Tháp Miếu, huyện Yên Lãng nay thuộc Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tạc năm 1210 triều vua Lý Cao Tông. Trước tác thì phải sang thời nhà Trần mới có dấu tích rõ ràng. Hàn Thuyên là người có công lớn phát triển thơ Nôm thời kỳ này với việc mở đầu thể Hàn luật. Sự hình thành và Phát triển của chữ Hán Nôm Ban đầu khi mới xuất hiện, chữ Nôm thuần túy mượn dạng chữ Hán y nguyên để ghi âm tiếng Việt cổ mượn âm để chép tiếng Quốc âm. Phép đó gọi là chữ “giả tá”. Dần dần phép ghép hai chữ Hán lại với nhau, một phần gợi âm, một phần gợi ý được dùng ngày càng nhiều và có hệ thống hơn. Phép này gọi là “hài thanh” để cấu tạo chữ mới. Kể từ thời Lê về sau số lượng sáng tác bằng chữ Nôm tăng dần trong suốt 500 năm từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Dồi dào nhất là các áng thi văn có tính cách cảm hứng, tiêu khiển, và nặng phần tình cảm. Những tác phẩm Nôm này rất đa dạng từ Hàn luật thơ Nôm tiếng Việt theo luật Đường, đến văn tế, truyện thơ lục bát, song thất lục bát, phú, hát nói, tuồng, chèo. Thi ca chữ Nôm đã diễn tả đầy đủ mọi tình cảm của dân tộc Việt, khi thì hào hùng, khi bi ai; khi thì trang nghiêm, khi bỡn cợt. Chữ Hán Nôm Trước thế kỷ 15 Một số di tích còn lưu lại dấu vết chữ Nôm trước thế kỷ 15 nhưng số lượng không nhiều ngoài vài văn bia. Tuy nhiên có thuyết cho rằng một tác phẩm quan trọng là tập Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, dịch Nôm là Phật nói cả trả ơn áng ná cực nặng đã ra đời vào thời nhà Lý khoảng thế kỷ 12. Đây cũng là đặc điểm vì tập này là văn xuôi, một thể văn ít khi dùng chữ Nôm. Nhà Trần cũng để lại một số tác phẩm chữ Nôm như mấy bài phú của vua Trần Nhân Tông “Cư trần lạc đạo phú” 居塵樂道賦 và “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca” 得趣林泉成道歌.[9][10] Chữ Hán Nôm Thế kỷ 15 –17 Thời kỳ này phần lớn thi văn lưu truyền biết tới nay là thơ Hàn luật bát cú hoặc tứ tuyệt. Một số là trước tác cảm hứng riêng như Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi Hồng Đức quốc âm thi tập Lê Thánh Tông Bạch Vân am thi tập Nguyễn Bỉnh Khiêm Ngự đề hoà danh bách vịnh Chúa Trịnh Căn Tứ thời khúc vịnh Hoàng Sĩ Khải Ngọa long cương Đào Duy Từ nhưng cũng không thiếu những tác phẩm theo dạng sử ký như Thiên Nam Minh giám, Thiên Nam ngữ lục. Thơ lục bát cũng xuất hiện với tác phẩm “Cảm tác” của Nguyễn Hy Quang, được sáng tác năm 1674. Thế kỷ 17 cũng chứng kiến sự xuất hiện nhưng đã sớm nở rộ của văn học Nôm Công giáo, với những tác giả tên tuổi như nhà truyền giáo Girolamo Maiorica chủ trì biên soạn hơn 45 tác phẩm nhiều thể loại, thầy giảng Gioan Thanh Minh viết tiểu sử các danh nhân và thánh nhân, thầy giảng Lữ-y Đoan viết Sấm truyền ca, truyện thơ lục bát phỏng tác từ Ngũ Thư. Chữ Hán Nôm Thế kỷ 18 – 19 Thơ Hàn luật của những thế kỷ kế tiếp càng uyển chuyển, lối dùng chữ càng tài tình, hóm hỉnh như thơ của Hồ Xuân Hương hay Bà Huyện Thanh Quan. Ngược lại thể thơ dài như Ai tư vãn của Ngọc Hân Công chúa cùng thể song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm lưu danh những nữ sĩ biệt tài thời trước. Riêng Chinh phụ ngâm được xem là một tuyệt tác, có phần trội hơn nguyên bản chữ Nho. Thể song thất lục bát cũng lưu lại tác phẩm Cung oán ngâm khúc, lời văn cầu kỳ, hoa mỹ nhưng thể thơ phổ biến nhất là truyện thơ lục bát, trong đó phải kể Truyện Kiều Nguyễn Du và Lục Vân Tiên Nguyễn Đình Chiểu. Văn từ truyện thơ bình dị hơn nhưng lối hành văn và ý tứ không kém sâu sắc và khéo léo. Những tác phẩm truyện Nôm khuyết danh khác như Thạch Sanh Trê Cóc Nhị độ mai Phan Trần Tấm Cám Lưu Bình Dương Lễ Ngư tiều vấn đáp y thuật Nữ tú tài Tô Công phụng sứ tất cả được phổ biến rộng rãi khiến không mấy người Việt lại không biết vài câu, nhất là Truyện Kiều. Dưới triều đại nhà Tây Sơn, do sự hậu thuẫn của Quang Trung hoàng đế, toàn bộ các văn kiện hành chính bắt buộc phải viết bằng chữ Nôm trong 24 năm, từ 1788 đến 1802. Thời kỳ cuối của chữ Nôm xuất hiện nhiều tác phẩm thi ca theo thể hát nói như của Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương Những thể cũ song thất lục bát và lục bát các truyện Nôm vẫn góp mặt song thêm vào đó là những vở tuồng hoặc chèo dân gian cũng được soạn bằng chữ Nôm như Kim Thạch kỳ duyên, Chàng Lía Văn Doan diễn ca, Quan Âm Thị Kính. Đối ngược lại tài liệu văn học thì triết học, sử học, luật pháp, y khoa và ngữ học tuy có được ghi lại bằng chữ Nôm nhưng tương đối ít. Văn vần thì có Đại Nam quốc sử diễn ca thời Nguyễn. Đặc biệt là cuốn từ điển song ngữ Hán Nôm Đại Nam Quốc ngữ do Văn Đa Nguyễn Văn San soạn năm Tự Đức thứ 30 1877.Song sử liệu, nhất là chính sử cùng các văn bản hành chính của triều đình thì nhất thể đều bằng chữ Hán. Ngoại lệ là những năm tồn tại ngắn ngủi của nhà Hồ thế kỷ 15 và nhà Tây Sơn thế kỷ 18. Những văn bản hành chính như sổ sách, công văn, giấy tờ, thư từ, khế ước, địa bạ chỉ đôi khi xen chữ Nôm nếu không thể tìm được một chữ Hán đồng nghĩa để chỉ các danh từ riêng như tên đất, tên làng, tên người, nhưng tổng thể vẫn là văn bản Hán Việt. Sự Suy giảm của chữ Hán Nôm Dưới chính quyền thuộc địa và bảo hộ của Pháp, vào cuối thế kỷ 19 tại Nam Kỳ và đầu thế kỷ 20 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, vị thế của chữ Hán và chữ Nôm bắt đầu giảm sút. Kỳ thi Hương cuối cùng tại Nam Kỳ được tổ chức vào năm 1864, tại Bắc Kỳ là năm 1915, tại Trung Kỳ là năm 1918 và kỳ thi Hội sau cùng được tổ chức vào năm 1919. Trong chừng mực nào đó, chữ Hán vẫn tiếp tục được dạy trong thời Pháp thuộc. Học chính Tổng quy Règlement général de l’Instruction publique do Toàn quyền Albert Sarraut ban hành năm 1917 quy định ở cấp tiểu học, mỗi tuần dạy Hán tự một giờ rưỡi và dạy tiếng Pháp lớp nhì và lớp nhất ít nhất 12 giờ. Ở cấp trung học, mỗi tuần quốc văn gồm Hán tự và Quốc ngữ dạy 3 giờ trong khi Pháp văn và lịch sử Pháp dạy 12 giờ. Bên cạnh bộ Quốc-văn giáo-khoa thư của nhóm Trần Trọng Kim, Nha Học chính Đông Pháp còn tổ chức và cho sử dụng bộ Hán-văn tân giáo-khoa thư xuất bản lần đầu năm 1928 do Lê Thước và Nguyễn Hiệt Chi biên soạn, đều được dùng rộng rãi cho tới trước năm 1949. Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dừng việc dạy chữ Hán trong nhà trường kể từ năm 1950. Còn tại miền Nam, Giáo dục Việt Nam Cộng hòa quy định dạy chữ Hán cho học sinh trung học đệ nhất cấp….? Sau tái thống nhất, chương trình giáo dục phổ thông của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không giảng dạy chữ Hán. Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ là hai hệ chữ dùng để viết tiếng Việt, chúng có vai trò khác nhau trong dòng lịch sử và văn hóa. Chữ Quốc ngữ được các nhà truyền giáo Dòng Tên tại Việt Nam sáng chế dựa trên ký tự Latinh vào nửa đầu thế kỷ 17 và suốt một thời gian dài tới cuối thế kỷ 19 chỉ được lưu hành trong giới Công giáo. Tuy nhiên, trái với nhiều người lầm tưởng, trong thời kỳ này, lượng văn thư Kitô giáo chữ Nôm vượt xa chữ Quốc ngữ, và sách chữ Nôm vẫn được người Công giáo sử dụng cho đến giữa thế kỷ 20. Thời Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa muốn tăng cường ảnh hưởng của tiếng Pháp và hạn chế ảnh hưởng của Hán học cùng với chữ Hán. Sự giảm sút của chữ Hán cũng dẫn đến sự suy giảm của chữ Nôm. Về văn tự thay thế để viết tiếng Việt, họ bất đắc dĩ phải chấp nhận sự hiện hữu của chữ Quốc ngữ do các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha chế tạo. Bất chấp việc chính quyền Pháp cổ súy chữ Quốc ngữ cho mục đích của họ, các sĩ phu vận động ủng hộ chữ Quốc ngữ trong công cuộc phổ biến tân học và lan truyền tư tưởng yêu nước. Các phong trào cải cách như Hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chữ Quốc ngữ. Ngày nay, tiếng Việt hầu như được viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ, trong khi đó chỉ rất ít người, chủ yếu là các học giả, có thể đọc viết được chữ Nôm. Một số người cho rằng chữ Quốc ngữ đã làm lu mờ vị thế của chữ Nôm nhưng một số khác thì nhấn mạnh rằng về mặt kỹ thuật, hai hệ chữ này không loại trừ nhau, nghĩa là, người ta vẫn có thể biết chữ Quốc ngữ đồng thời học chữ Nôm vì điều này không ai ngăn cấm cả. Những cách tạo chữ Nôm Mượn cả âm và nghĩa của chữ Hán Mượn cả âm đọc âm Hán Việt và nghĩa của chữ Hán để ghi lại các từ từ Hán Việt. Âm Hán Việt có ba loại là Âm Hán Việt tiêu chuẩn bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán thời Đường. Ví dụ “ông” 翁, “bà” 婆, “thuận lợi” 順利, “công thành danh toại” 功成名遂. Âm Hán Việt cổ bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán trước thời Đường. Ví dụ “mùa” 務 âm Hán Việt tiêu chuẩn là”vụ”, “bay” 飛 âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phi”, “buồng” 房 âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phòng”. Âm Hán Việt Việt hoá là các âm gốc Hán bị biến đổi cách đọc do ảnh hưởng của quy luật ngữ âm tiếng Việt. Ví dụ “thêm” 添 âm Hán Việt tiêu chuẩn là “thiêm”, “nhà” 家 âm Hán Việt tiêu chuẩn là “gia”, “khăn” 巾 âm Hán Việt tiêu chuẩn là “cân”, “ghế” 几 âm Hán Việt tiêu chuẩn là “kỉ”. Ba loại âm Hán Việt kể trên đều được dùng trong chữ Nôm. Mượn âm chữ Hán, không mượn nghĩa Mượn chữ Hán đồng âm hoặc cận âm để ghi âm tiếng Việt. Âm mượn có thể là âm Hán Việt tiêu chuẩn, âm Hán Việt cổ hoặc âm Hán Việt Việt hoá. Khi đọc có thể đọc giống với âm mượn hoặc đọc chệch đi. Ví dụ Đọc giống như âm Hán Việt tiêu chuẩn chữ “một” 沒 có nghĩa là “chìm” được mượn dùng để ghi từ “một” trong “một mình”, chữ “tốt” 卒 có nghĩa là “binh lính” được mượn dùng để ghi từ “tốt” trong “tốt xấu”, chữ “xương” 昌 có nghĩa là “hưng thịnh” được mượn dùng để ghi từ “xương” trong “xương thịt”, chữ “qua” 戈 là tên gọi của một loại binh khí được mượn dùng để ghi từ “qua” trong “hôm qua”. Đọc chệch âm Hán Việt tiêu chuẩn “gió” 這 mượn âm “giá”, “cửa” 舉 mượn âm “cử”, “đêm” 店 mượn âm “điếm”, “chạy” 豸 mượn âm “trãi”. Đọc giống như âm Hán Việt cổ chữ “keo” 膠 “keo” trong “keo dán”, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “giao” được dùng để ghi lại từ “keo” trong “keo kiệt”, chữ “búa” 斧 “búa” trong “cái búa”, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phủ” được dùng để ghi lại từ “búa” trong “chợ búa” “búa” trong “chợ búa” là âm Hán Việt cổ của chữ “phố” 鋪. Mượn nghĩa chữ Hán, không mượn âm Mượn chữ Hán đồng nghĩa hoặc cận nghĩa để ghi lại âm tiếng Việt. Ví dụ chữ “dịch” 腋 có nghĩa nghĩa là “nách” được dùng để ghi lại từ “nách” trong “hôi nách”, chữ “năng” 能 có nghĩa là “có tài, có năng lực” được dùng để ghi lại từ “hay” trong “văn hay chữ tốt”. Tạo chữ ghép Chữ ghép, còn gọi chữ là chữ hợp thể, là chữ được tạo ra bằng cách ghép hai hoặc nhiều hơn chữ khác thành một chữ. Các chữ cấu thành nên chữ ghép có thể đóng vai trò là thanh phù bộ phận biểu thị âm đọc của chữ ghép hoặc nghĩa phù bộ phận biểu thị ý nghĩa của chữ ghép hoặc vừa là thành phù vừa là nghĩa phù hoặc dùng làm phù hiệu chỉnh âm chỉ báo cho người đọc biết chữ này cần phải đọc chệch đi. Chúng có thể được viết nguyên dạng hoặc bị viết tỉnh lược mất một phần hoặc thay bằng chữ giản hóa. Thanh phù luôn có âm đọc giống hoặc gần giống với âm đọc của chữ ghép. Phù hiệu chỉnh âm được dùng trong chữ Nôm là bộ “khẩu” 口 đặt ở bên trái chữ ghép, dấu “cá” 亇 bắt nguồn từ chữ “cá” 个 viết theo thể thảo thư, đặt ở bên phải chữ ghép, dấu nháy “?” đặt ở bên phải chữ ghép, bộ “tư” 厶 đặt ở bên trên hoặc bên phải chữ ghép, dấu “冫” đặt bên trái chữ ghép, chỉ thấy dùng trong các bản văn bản Nôm ở vùng Nam Bộ Việt Nam. → Xem thêm bài 7 Cách học chữ Hán dễ Nhớ nhất → Một số ví dụ về chữ ghép “chân” 蹎 “chân” trong “chân tay” chữ này được cấu thành từ chữ “túc” 足 và chữ “chân” 真. “Túc” 足 có nghĩa là “chân” được dùng làm “nghĩa phù” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. Trong chữ ghép chữ “túc” 足 khi đứng ở bên trái phải viết dưới dạng biến thể gọi là “bàng chữ túc” ⻊. Chữ “chân” 真 “chân” trong “chân thành” đồng âm với “chân” trong “chân tay” được dùng làm thanh phù biểu thị âm đọc của chữ ghép. “gạch” ? “gạch” trong “gạch ngói” chữ này được cấu thành từ chữ “thạch” 石 và chữ “ngạch” 額. “Thạch” 石 có nghĩa là “đá” được dùng làm nghĩa phù, ý là gạch thì được làm bằng đất đá. “Ngạch” 額 dùng làm thanh phù. “khói” chữ này được cấu thành từ chữ “hỏa” 火 và chữ “khối” 塊 bị tỉnh lược một phần tỉnh lược bộ “thổ” 土 ở bên trái chữ “khối” 塊. “Hỏa” 火 có nghĩa là lửa, gợi ý nghĩa của chữ ghép lửa cháy tạo ra khói, “khối” 塊 gợi âm đọc của chữ ghép. “ra” chữ này được cấu thành từ chữ “la” 羅 giản hóa và chữ “xuất” 出. “Xuất” 出 có nghĩa là “ra” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. “trời” chữ này được cấu thành từ chữ “thiên” 天 có nghĩa là “trời” và chữ “thượng” 上 có nghĩa là “trên”, ý là “trời” thì nằm ở trên cao. “lử” “lử” trong “mệt lử” gồm chữ “vô” 無 có nghĩa là “không có” và chữ “lực” 力 có nghĩa là “sức, sức lực”, ý là “lử” là không còn sức lực gì nữa. Tiếng Việt hiện đại không có phụ âm kép nhưng trong tiếng Việt từ giai đoạn trung đại trở về trước thì lại có phụ âm kép. Trong chữ Nôm hợp thể để biểu thị các phụ âm kép người ta dùng một hoặc hai chữ làm thanh phù. Nếu dùng hai chữ làm thanh phù thì một chữ sẽ dùng để biểu thị phụ âm thứ nhất của phụ âm kép, chữ còn lại biểu thị phụ âm thứ hai của phụ âm kép. Ví dụ – “blăng” “Blăng” hiện nay đã biến đổi thành “trăng, giăng”. Chữ “blăng” ? được cấu thành từ chữ “ba” 巴, chữ “lăng” 夌 và chữ “nguyệt” 月. “Ba” 巴 biểu thị phụ âm thứ nhất “b” của phụ âm kép “bl”, “lăng” 夌 biểu thị phụ âm thứ hai “l” và phần vần của từ “blăng”, “nguyệt” 月 có nghĩa là “mặt trăng” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép này. – “mlời” “Mlời” hiện nay đã biến đổi thành “lời, nhời” “lời” trong “lời nói”. Chữ “mlời” ? được cấu thành từ chữ “ma” 麻 bị tỉnh lược thành “亠” và chữ “lệ” 例. “Ma” 麻 biểu thị phụ âm thứ nhất – “m” của phụ âm kép “ml”, “lệ” 例 biểu thị phụ âm thứ hai “l” và phần vần cửa từ “mlời”. – “tlòn” “Tlòn” hiện nay đã biến đổi thành “tròn”. Chữ này được cấu thành từ chữ “viên” 圓 bị tỉnh lược bộ “vi” 囗 ở phía ngoài thành “員” và chữ “lôn” 侖. “Viên” 圓 có nghĩa là “tròn” được dùng làm nghĩa phù. “Lôn” 侖 là thanh phù, biểu thị phụ âm thứ hai “l” của phụ âm kép “tl” và phần vần của từ “tlòn”. – “krông” 滝 “Krông” hiện nay đã biến đổi thành “sông”. Chữ này được cấu thành từ bộ “thủy” 水 và chữ “long” 竜. “Thủy” có nghĩa là “sông” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. “Long” 竜 biểu thị phụ âm thứ hai “r” của phụ âm kép “kr” và phần vần của từ “krông”. – “sláu” “sláu” hiện nay đã biến đổi thành “sáu”. Chữ này được cấu thành từ chữ “lão” và chữ “lục”. “Lục” 六 là nghĩa phù, có nghĩa là “sáu”. “Lão” 老 là thanh phù, biểu thị phụ âm thứ hai “l” của phụ âm kép “sl” và phần vần của từ “sláu”. Lược bớt nét của chữ Hán để biểu thị phải đọc chệch đi Lược bớt ít nhất là một nét của một chữ Hán nào đó để gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này phải đọc chệch đi. Ví dụ – chữ “ấy” lược nét chấm “丶” trên đầu chữ “ý” 衣. Việc lược bớt nét bút này gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này không đọc là “y” hay “ý” chữ 衣 có hai âm đọc là “y” và “ý” mà cần đọc chệch đi. – “khệnh khạng” chữ “khệnh ? là chữ “cộng” 共 bị lược bớt nét phẩy “㇒”, chữ “khạng” ? là chữ “cộng” 共 bị lược bớt nét mác “㇔”. – “khề khà” chữ “khề” ? là chữ “kỳ” bị lược bớt nét phẩy “㇒”, chữ “khà” ? là chữ “kỳ” bị lược bớt nét mác “㇔”. Mượn âm của chữ Nôm có sẵn Dùng chữ Nôm có sẵn để ghi lại từ tiếng Việt đồng âm hoặc cận âm nhưng khác nghĩa hoặc đồng nghĩa nhưng khác âm với chữ được mượn. Khi đọc có thể đọc giống với âm đọc của chữ được mượn hoặc đọc chệch đi. Ví dụ Đọc giống với âm đọc của chữ được mượn chữ “chín” ? “chín” trong “chín người mười ý” được dùng để ghi từ “chín” trong “nấu chín”. Đọc chệch âm chữ “đá” ? “đá” trong “hòn đá” được dùng để ghi từ “đứa” trong “đứa bé”. Nhìn chung chữ Nôm thường có nhiều nét hơn, phức tạp hơn chữ Hán do phần lớn là những chữ buộc phải ghép 2 chữ Hán lại nên khó học, khó nhớ hơn cả chữ Hán vốn cũng đã khó nhớ. Để đọc viết được chữ Nôm đòi hỏi phải có vốn hiểu biết chữ Hán nhất định. Hệ chữ Nôm cũng không có sự thống nhất có thể có nhiều chữ dùng để ghi cùng một âm tiết, hoặc ngược lại, một chữ có thể có nhiều cách đọc khác nhau. Tình trạng này còn do “tam sao thất bản”, phần vì trình độ người thợ khắc chữ ngày xưa, phần vì khâu in mộc bản có chất lượng không cao chữ bị nhòe, mất nét. Do đó có người nói “chữ Nôm phải vừa đọc vừa đoán”, “nôm na là cha mách qué”. Về mặt ngữ học thì do âm trong tiếng Việt nhiều hơn số âm trong tiếng Hán tiếng Việt có 4500 đến 4800 âm; tiếng Hán Quan thoại có khoảng 1280 âm nên người viết phải dùng dấu nháy [»] hoặc chữ khẩu [口] đặt cạnh một chữ để biểu thị những chữ cận âm. Người đọc vì vậy phải giỏi mà đoán cho trúng âm, khiến chữ Nôm rất khó đọc. Chữ Nôm của các dân tộc khác Ở Việt Nam, không chỉ có dân tộc Kinh chế tạo ra chữ Nôm, một vài dân tộc thiểu số khác như Tày, Dao, Ngạn,… cũng tạo ra chữ Nôm dựa trên chữ Hán để lưu lại ngôn ngữ của họ.[19] Chữ Nôm Tày Chữ Nôm Dao Chữ Nôm Ngạn Người Ngạn, một nhóm cư dân ở tỉnh Cao Bằng tự nhận thuộc dân tộc Tày nhưng về mặt ngôn ngữ thì gần với người Giáy, từng sử dụng chữ Nôm Ngạn trộn với chữ Hán trong các bài mo khấn cúng. “Chữ nôm” của các nước khác Do 喃 nôm = 口 khẩu + 南 nam nên chữ “喃 nôm” trong tên gọi “chữ Nôm” thường được hiểu với ý nghĩa là “ngôn ngữ của người Nam”. Tuy nhiên, nếu mở rộng khái niệm “chữ nôm” ra cho tất cả các hệ chữ được sáng tạo dựa trên chữ Hán thì có người còn gọi những chữ được các dân tộc phương bắc như Nhật Bản, Triều Tiên là “chữ nôm Nhật”, “chữ nôm Triều”, hay gọi những hệ thống chữ của các dân tộc thuộc Trung Quốc như Tráng, Đồng, là “chữ nôm Choang”, “chữ nôm Đồng”, Kokuji 国字 Quốc tự trong hệ thống Kanji của người Nhật cũng được tạo thành từ chữ Hán để ghi lại những từ và khái niệm riêng trong tiếng Nhật. Ví dụ 畑 hatake = 火 hoả + 田 điền, nghĩa là cánh đồng khô, để phân biệt với 田 là ruộng trồng lúa nước; 鮭 sake = 魚 ngư + 圭 khuê, nghĩa là cá hồi Nhật Bản; 瓩 kiloguramu = 瓦 ngoã + 千 thiên, nghĩa là kílô-gam. Trong hệ thống Kanji hiện đại, cũng có nhiều chữ không có trong các tự điển Trung Quốc nhưng không phải là Kokuji vì đó chỉ là cách đơn giản hoá những chữ Hán đã có sẵn theo kiểu của người Nhật. Ví dụ 円 là giản thể của 圓 viên; 売 là giản thể của 賣 mại. Tương tự như Kokuji của người Nhật, người Triều Tiên cũng dùng chữ Hán để tạo thành một số chữ biểu ý riêng trong hệ thống Hanja của họ. Ví dụ 畓 dap = 水 thuỷ + 田 điền, nghĩa là ruộng nước, để phân biệt với 田 là đồng khô; 巭 bu = 功 công + 夫 phu, nghĩa là người lao động. Chữ Choang vuông Sawndip của người Tráng ở cực nam Trung Quốc được phát triển dựa trên chữ Hán và thường được so sánh với chữ Nôm của dân tộc Kinh ở Việt Nam do có nhiều điểm tương đồng giữa hai hệ thống chữ viết này. Tuy nhiên, ngoài những cách tạo chữ tương tự với cách tạo chữ Nôm là giả tá, hình-thanh và hội ý, còn có những chữ vuông Choang được tạo ra bởi những cách sơ khai hơn là tượng hình và chỉ sự Tuy nhiên, cũng nên phân biệt những “chữ nôm” này với những bộ chữ biểu âm như Kana và Hangul trong tiếng Nhật và tiếng Hàn hiện đại. Các phần mềm viết chữ Hán Nôm Có nhiều phần mềm máy tính tạo ra ký tự chữ Nôm bằng cách gõ chữ Quốc ngữ. HanNomIME là phần mềm chạy trên Windows hỗ trợ cả chữ Hán và chữ nôm. Vietnamese Keyboard Set hỗ trợ gõ chữ Nôm và chữ Hán trên Mac OS X. WinVNKey là bộ gõ đa ngôn ngữ trên Windows hỗ trợ gõ chữ Hán và chữ Nôm bằng âm Quốc ngữ. Weasel Hannom là bộ gõ của Ủy ban phục sinh Hán Nôm được xây dựng trên cơ sở bộ gõ Weasel. Phông chữ Nôm nằm trong cơ sở dữ liệu Unihan. VietUnicode là phông Unicode chứa các ký tự chữ Nôm. Nó là một dự án trên SourceForge. Phông TrueType có thể tải về từ. Một số từ điển chữ Nôm trên mạng Internet có Từ điển ở Viện Việt học tiếng Việt Nom character index Tiếng Anh. Trích nguồn → Xem chi tiết về Khóa học viết chữ Hán Nôm và Thư pháp tại đây Ngoài văn hoá dân gian truyền miệng còn có dòng văn học chữ viết, lúc đầu là chữ Hán, sau chữ Nôm rồi đến chữ Quốc ngữ như ngày nay. Dòng văn học này trải qua nhiều thời kì. Những văn bản sớm nhất hiện tìm thấy có từ thế kỉ thứ X, tạm chia làm hai giai đoạnTừ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XIX Từ đầu thế kỉ XX đến này. Bạn đang xem Các tác phẩm văn học chữ hán Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Trong giai đoạn này, văn học thành văn được viết bằng hai thứ chữ chữ Hán và chữ Nôm. Mặc dù trải qua một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt Nam không bị đồng hoá mà dần dần hình thành bản sắc dân tộc riêng biệt. Chữ Nôm xuất hiện từ rất sớm nhưng từ thế kỉ XVI trở đi văn học chữ Nôm mới thịnh hành và đến thế kỉ XVIII thì văn học chữ Nôm chiếm một vị trí rất lớn. Sự phát triển về ý thức dân tộc đã tạo điều kiện cho văn học chữ Nôm ngày càng phát triển. Văn học chữ viết hình thành và phát triển Trong nhiều thế kỉ, văn học chữ Hán chiếm vị trí chủ yếu trừ một vài trường hợp như triều Hồ Quý Ly và Quang Trung coi trọng chữ Nôm, tuy sử dụng chữ Hán nhưng các tác phẩm văn học ấy vẫn thấm đượm tính cách và tâm hồn Việt Nam như bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, những bài thơ ca ngợi chiến thắng của quân dân nhà Trần của Phạm Ngũ. Lão, Trần Quang Khải, Phạm Sư Mạnh, Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi, vv. Tiếp đến là những bộ sử dược viết với một ý thức dân tộc mạnh mẽ Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, w. Thế kỉ XV, văn học chữ Hán vẫn chiếm ưu thế. Tuy vậy văn học chữ Nôm vẫn không ngừng phát triển. Nguyễn Trãi là người nêu cao tiếng Việt và vận dụng chữ Nôm vào sáng tác văn học. Tập thơ Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi trong thời kì này là một trong những tập thơ Nôm xưa nhất có giá trị đến ngày nay. Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, văn học chữ Nôm phát triển rực rỡ chiếm ưu thế hoàn toàn trên văn đàn. Những nhà thơ lớn đã khai thác triệt để ngôn ngữ của dân tộc, nhiều tác phẩm tiêu biểu ra đời Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, w, Từ đầu thế kỉ XX đến nay. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các tác phẩm văn học bằng chữ Quổe ngữ dần dần xuất hiện. Nền văn học Việt Nam hiện nay không chỉ tiếp thu và chịu ảnh hưởng của nền văn học Trung Quốc mà còn tiếp thu cả nền văn học phương Tây đặc biệt là văn học Pháp, đã đưa nền văn học Việt Nam phong phú hơn và đa dạng hơn về thể loại. Văn học Việt Nam dần dần đã tách khỏi phong cách cổ điển với những điển tích nặng nề, linh hoạt hơn, chính xác hơn và gần với ngôn ngữ hàng ngày hơn. Năm 1925, những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam ra đời Tố Tàm của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật. Phong trào thơ mới được coi là “một cuộc cách mạng” trong thơ ca, những quy tắc gò bó, lối diễn đạt ước lệ, công thức bị phá bỏ, cảm xúc được diễn tả tự nhiên, cởi mở hơn, lãng mạn hơn. Xem thêm Trong phong trào thơ mới xuất hiện nhiều nhà thơ tài năng Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tản Đà, more Ý Nghĩa Của Từ Ew Nghĩa Là Gì Trong Tiếng Việt? Ew Là Gì, Ew Viết Tắt, Định Nghĩa, Ý Nghĩa Về Văn học lãng mạn nổi lên có nhóm Tự lực văn đoàn được thành lập năm 1932 gồm Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam và một số nhà văn trẻ, w. Dòng văn học này tuy có nhiều tiến bộ trong sáng tác nhưng không tránh khỏi những hạn chế về mặt tư tưởng. Bên cạnh trào lưu văn học lãng mạn phải kể đến dòng Văn học hiện thực phê phán. Các sáng tác của trào lưu văn học này có tính chân thực cao và thăm đượm tinh thần nhẫn dạo. Trào lưu này đã cho ra dời những tác phẩrn thật sự xuất sắc cả về nội dung và hình thức như Bước dường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tẩt Tố, Vỡ đê, Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Bi vò của Nguyễn Hồng, Chí Phèo của Nam Cao, w. Cùng với hai trào lưu trên còn có trào lưu Văn học cách mạng nhưng không được lưu hành hợp pháp tuy có lúc được lưu hành hợp pháp. Trào lưu văn học này gồm những thơ văn của các chiến sĩ cách mạng ở trong tù và những tác phẩm được xuất bản trên báo chí nước ngoài. Những tác giả tiêu biểu cho trào lưu này là Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thuỷ, vv. Cuộc cách mạng tháng Tám thành công, nền Văn học hiện đại được phát triển mạnh mẽ. Những tác phẩm ra đời trong thời kì này như những mốc son đánh dấu từng giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Các tác phẩm Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ của Võ Huy Tầm, Xung Kích của Nguyễn Đình Thi, Tuỳ bút của Nguyễn Tuân, w. là thành quả của nền văn học trong những năm kháng chiến chống Pháp. Cuộc kháng chiến chống Mĩ kéo dài 21 năm, nhiều tác phấm văn học nổi tiếng đã ra đời, phản ánh cuộc đấu tranh vô cùng anh dũng của đồng bào và chiến sĩ cả nước như Hòn đất của Anh Đức, Gia đình má Bẩy, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Trên đất Quảng, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi. Và các tác phẩm thơ Quê hương của Giang Nam, Dáng dứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, Bài ca Chim Chơ-rao của Thu Bồn, Gió Lào cát trắng của Xuân Quỳnh, w. Xem thêm Hiện nay các nhà văn, nhà thơ đang có gắng đưa văn học Việt Nam sang một giai đoạn mới, góp phần xây dựng một nước Việt Nam đi lên trong hoà bình và ổn more Các Món Chế Biến Từ Cá Trê Lai Vừa Lạ Miệng Lại Thơm Ngon Hết Ý Thông báo Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem. Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu * Lưu tên của tôi, email, và trang web trong trình duyệt này cho lần bình luận kế tiếp của tôi. CHỈ CẰN GHI ĐÁP ÁN KO CẰN GHI ĐỀ Câu 11 Thời Lý, nội dung học tập chủ yếu là A. Văn học chữ Hán. B. Kinh Phật. C. Văn học chữ Hán và kinh Phật. D. Tất cả đều 12 Nơi nào được coi là trường học đầu tiên của quốc gia Đại Việt. A. Quốc Tử Giám. B. Văn Miếu. C. Chùa Trấn Quốc. D. Chùa Một 13 Dưới thời Lý, đạo Phật lại phát triển thành quốc giáo không vì lí do nào? A. Do đạo Phật phù hợp với đời sống văn hóa tinh thần của người ViệtB. Nhà Lý được thành lập dựa trên sự giúp đỡ của các nhà sưC. Tư tưởng thoát Trung trong buổi đầu mới giành độc lập của người ViệtD. Nho giáo không có tác dụng trong công cuộc xây dựng đất nướcCâu 14 An Nam tứ đại khí bao gồm những công trình kiến trúc- điêu khắc nào? A. Chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, tháp Chương Sơn, chuông chùa Trùng Chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, vạc Phổ Minh, tượng phật chùa Quỳnh LâmC. Chuông Quy Điền, vạc Phố Minh, Cữu Trùng đài, tháp Chương Chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, tháp Bình Sơn, tượng phật chùa Quỳnh LâmCâu 15 Vị vua cuối cùng của triều đại nhà Lý là ai ?A. Lý Huệ Tông B. Lý Cao Tông C. Lý Anh Tông D. Lý Chiêu HoàngCâu 16 Âm mưu của Mông Cổ trong chiến tranh xâm lược Đại Việt lần 1 là gì? A. Xâm lược Đại Việt để giải quyết những khó khăn trong nước. B. Xâm lược Đại Việt để làm bàn đạp tấn công Nam Tống. C. Xâm lược Đại Việt để làm bàn đạp tấn công Cham-pa. D. Xâm lược Đại Việt để làm bàn đạp tấn công các nước phía nam Đại 17 Trước nguy cơ bị quân Mông xâm lược, triều đình nhà Trần đã có thái độ như thế nào? A. Kiên quyết chống giặc và tích cực chuẩn bị kháng chiến. B. Chấp nhận đầu hàng khi sứ giả quân Mông Cổ đến. C. Cho sứ giả của mình sang giảng hòa. D. Đưa quân đón đánh giặc ngay tại cửa 18 Câu nói “Nếu bệ hạ muốn hàng giặc thì trước hãy chém đầu thần rồi hãy hàng” là của ai? A. Trần Quốc Toản. B. Trần Thủ Độ. C. Trần Quang Khải. D. Trần Quốc 19 Chủ trương đánh giặc nào được nhà Trần thực hiện trong cả ba lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên. A. Tiêu diệt đoàn thuyền lương của giặc. B. Chặn đánh ngay từ khi quân giặc vừa tiến vào nước ta. C. Thực hiện “vườn không nhà trống” D. Kiên quyết giữ Thăng Long, đào chiến lũy để chống 20 Trận đánh lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ nhất là A. Trận Quy Hóa Yên Bái, Lào Cai. B. Trận Thiên Mạc Duy Tiên, Hà Nam. C. Trận Đông Bộ Đầu bến sông Hồng, ở phố Hàng Than – Hà Nội. D. Trận Bạch Đằng.

văn học chữ hán và chữ nôm