gốm sứ việt nam qua các thời kỳ
Phone: 0969 774 969. Email: gomminhquang@gmail.com. Gốm sứ Bát Tràng > Tin tức > Cách làm Gốm Sứ thủ công truyền thống Việt Nam. Địa chỉ : Số 300 Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội. Phone : 0969 774 969. Email : gomminhquang@gmail.com. Open : 8:00 am - 5:00pm, everyday.
Vào khoảng 6000 - 7000 năm trở về trước, gốm sứ đã bắt đầu manh nha hình thành trên đất nước ta. Gốm sứ đã xuất hiện ở nhiều vùng trên đất nước, trải qua bao nhiêu thăng trầm gốm sứ Việt Nam đã có lúc phát triển mạnh, nhưng cũng có lúc gặp khó khăn lớn. Có
Thời kỳ thứ tư là vào nửa cuối thế kỷ XVII, khi Nhật Bản áp dụng chính sách "tỏa quốc", đồ gốm Việt Nam nhập vào Nhật Bản chủ yếu do các thuyền buôn Trung Quốc hoặc thuyền buôn Hà Lan đảm nhiệm. Trong 4 thời kỳ trên, thời kỳ Shuin-sen là thời kỳ Nhật Bản
Site De Rencontre Pour Sportif Gratuit. Tiêu điểm Hình ảnh tại buổi khai mạc "Gốm Việt Nam Một truyền thống riêng biệt - Nhìn từ sưu tập An Biên". Ảnh Dân trí TPO - Trưng bày "Gốm Việt Nam Một truyền thống riêng biệt- Nhìn từ bộ sưu tập An Biên" sẽ diễn ra từ ngày 19/11 đến tháng 4/2022 tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia số 1 Tràng Tiền, Hà Nội. Sự kiện do Bảo tàng Lịch sử quốc gia phối hợp với Hội Di sản Văn hoá Việt Nam và Sưu tập An Biên của nhà sưu tập Trần Đình Thăng Hải Phòng tổ chức nhằm mang đến cho công chúng bức tranh toàn cảnh về gốm Việt Nam ở 4 giai đoạn Gốm Việt Nam 10 thế kỷ đầu công nguyên; thế kỷ 11-14; từ thế kỷ 15 – 17 và gốm Bát Tràng thế kỷ 18 – 19. Trưng bày chuyên đề “Gốm Việt Nam Một truyền thống riêng biệt - Nhìn từ bộ sưu tập An Biên” nhằm tôn vinh gốm sứ nước nhà nhân Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam. Những đồ gốm sứ được trưng bày đều là những hiện vật tiêu biểu, đặc sắc, đại diện cho các thời đại, thời kỳ. Thông qua các hiện vật, Bảo tàng Lịch sử quốc gia giới thiệu tiến trình lịch sử gốm sứ Việt Nam đã có từ rất lâu đời với nhiều bước phát triển, gắn liền với các giai đoạn lịch sử, văn hóa nước ta. Trưng bày giới thiệu đến công chúng gần 80 hiện vật, trong đó có 58 hiện vật thuộc Bộ sưu tập An Biên và 22 hiện vật của Bảo tàng. Ban Tổ chức đã chia 4 chủ đề để giới thiệu đến công chúng đầy đủ các dòng men cũng như kỹ thuật, công nghệ sản xuất gốm sứ Việt Nam chứ không tập trung giới thiệu những hiện vật đơn thuần theo cách nhìn cổ vật với giá trị đắt tiền, to lớn, gây kinh ngạc... Trong bộ sưu tập có 9 hiện vật gốm thời Lý là men trắng, kích thước không lớn, cao 24-25 cm, như ấm men trắng cánh độc sắc khắc cánh sen có thể nói là cực kỳ đặc biệt, hiếm có. Thời Lý chuộng gốm men trắng, ưa chuộng sự giản dị, thanh cao. Đây là bộ sưu tập đặc sắc mà Hội Di sản văn hóa Việt Nam và các chuyên gia đã giúp sưu tập, thành lập bộ hồ sơ, đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia. Trưng bày "Gốm Việt Nam Một truyền thống riêng biệt- Nhìn từ bộ sưu tập An Biên" sẽ diễn ra từ ngày 19/11/2021 đến tháng 4/2022 tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia số 1 Tràng Tiền, Hà Nội. MỚI - NÓNG Nghệ nhân ưu tú K’Tiếu Tiếng chiêng ngân vang núi rừng TPO - Với niềm đam mê lớn và năng khiếu cảm thụ âm thanh, nghệ nhân K’Tiếu là một trong những người đánh chiêng giỏi nhất vùng. Ông đã trao truyền ngọn lửa đam mê và tay nghề cho hàng trăm người để tiếng chiêng ngân vang khắp buôn làng. Bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho cán bộ quân đội làm công tác dân vận TPO - Lớp bồi dưỡng nhằm trang bị tri thức, những kiến thức về dân tộc và công tác dân tộc cho cán bộ làm công tác dân vận trong Quân đội khu vực miền Trung - Tây Nguyên năm 2023, từ đó, làm tốt công tác tham mưu, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện tốt công tác dân tộc trong tình hình mới. Phía sau chuyện một ngôn ngữ cổ sắp biến mất TP - Hiện chỉ còn hai người nói được, tiếng Nuu không chỉ là một trong những ví dụ tiêu biểu về sự đa dạng văn hóa của nhân loại, mà còn là đường liên kết giữa chúng ta và loài người sơ khai. Có thể bạn quan tâm Thanh Hoá người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số TPO - UBND tỉnh Thanh Hóa vừa ban hành quyết định về việc phê duyệt danh sách người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh, giai đoạn 2023 – 2027. Hỗ trợ công tác giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tại Lạng Sơn TPO - Ngày 9/12, đoàn công tác của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, do Bà Leo Thị Lịch, Uỷ viên Thường trực Hội đồng Dân tộc làm Trưởng đoàn khảo sát tình hình triển khai, thực hiện một số chính sách giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số TPO - Tại tỉnh Hòa Bình, Bộ GD&ĐT vừa tổ chức Hội thảo tập huấn dạy học tăng cường Tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số theo định hướng Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Bộ trưởng Hầu A Lềnh 'Đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khăn, cần chính sách riêng' TPO - "Hiện nay chúng ta đang phân định vùng theo trình độ phát triển, chủ yếu dựa vào tỉ lệ hộ nghèo, tỉ lệ hoàn thành nhiệm vụ nông thôn mới… nhưng thực tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn rất khó khăn, cần phải có chính sách riêng", Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh cho biết. 12 tác phẩm xuất sắc trong cuộc thi về lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc TPO - Ban tổ chức cuộc thi "Tìm hiểu về lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam" đã nhận được gần tác phẩm dự thi. Với 123 tác phẩm vào vòng chung khảo, Ban Tổ chức đã trao giải cho 12 tác phẩm xuất sắc. Tuyên dương 140 học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số tiêu biểu năm 2022 TPO - Lễ tuyên dương học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS tiêu biểu năm 2022 sẽ diễn ra vào hai ngày 9 -10/12/2022 và truyền hình trực tiếp lúc 20h trên VTV2 tối ngày 10/12/2022. Năm nay, trong danh sách 140 người được tuyên dương có không ít gương mặt nổi bật, sở hữu thành tích rất cao. Chiêm ngưỡng cây mộc hương 'khủng', khách trả gần 2 tỷ đồng chủ vườn vẫn chưa bán TPO - Mộc hương, cây cảnh có mùi hương thơm đặc biệt, trước đây chỉ dành để tiến Vua giờ được khách trả gần 2 tỷ đồng nhưng chủ vườn ở Nghệ An vẫn chưa muốn bán. Chủ tịch nước chúc mừng Giáng sinh Tổng Giáo phận Hà Nội Trong không khí vui mừng chuẩn bị đón Lễ Thiên Chúa Giáng sinh 2022 và năm mới 2023, sáng 17/12, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã đến thăm, tặng quà, chúc mừng Tổng Giáo phận Hà Nội và Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam. Cùng đi có lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương và TP. Hà Nội. Tuyên truyền, vận động nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới TPO - Trong 2 ngày 6 - 7/12, Vụ Công tác dân tộc địa phương, Ủy ban Dân tộc của Chính phủ phối hợp với Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh khai mạc Hội nghị tập huấn về tuyên truyền, truyền thông, vận động nhân dân vùng đồng bào DTTS và miền núi, biên giới.
Mục lục1 Gốm sứ Việt Nam không ngừng phát triển qua mọi thời đại2 Tìm hiểu đồ gốm sứ Việt Nam qua các thời Gốm thời Lý Gốm thời Trần Gốm thời Lê sơ Gốm sứ Chu Gốm sứ Bát Tràng3 Gốm sứ Việt Nam ngày nay có đặc điểm gì? Việt Nam là một trong những nơi gốm xuất hiện sớm. Theo các tài liệu khảo cổ, cách đây một vạn năm, ở Việt Nam đã ra đời loại gốm đất nung. Để tìm hiểu sự phát triển và hình thành nên nghề gốm sứ các bạn không thể bỏ qua bài chia sẻ [ Thuyết minh ] Tìm hiểu đồ gốm sứ Việt Nam qua các thời đại sau đây Gốm sứ Việt Nam không ngừng phát triển qua mọi thời đại > Kết quả khảo cổ học cho biết đồ Gốm đã được người Việt chế tác, sử dụng cách đây khoảng 10. 000 năm. Có thể nói gốm sứ Việt Nam nói riêng hay gốm sứ trên thế giới nói chung không chỉ còn là những đồ dùng thủ công phục vụ nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người chén, ấm, đĩa, tô… mà còn hơn thế nó đã trở thành một nét hồn dân tộc, trở thành một vẻ đẹp riêng, một niềm tự hào riêng nói lên cốt cách, tâm hồn của cả một đất nước. Điển hình là thương hiệu gốm sứ Bát Tràng đã đi vào lòng người biết bao thế hệ trong và ngoài nước. > Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là “Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò”. Cụ thể là để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải trải qua các khâu chọn, xử lí và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Gốm thời Lý Đặc điểm gốm sứ tráng men hời Lý 1010-1224 bap gồm gốm men trắng ngà ,men nâu và men ngọc màu xanh. Gốm men ngọc thời Lý rất tinh tế, xương đất được lọc kỹ, dày và chắc. Lớp men gốm dày phủ kín xương gốm, mịn, bóng, sờ có cảm giác mát tay. Xương gốm và lớp men bám vào nhau rất chắc. Gốm men trắng Lý có độ trắng mịn và óng mượt và phần nhiều về chất lượng đã đạt tới trình độ sứ. > Men gốm sứ thời Lý trong suốt, sâu thẳm, mịn, lấp lánh ánh sáng. Gốm men ngọc xanh có điểm thêm các sắc vàng chanh, vàng xám nhạt, vàng rơm. Sự khác nhau giữa gốm trắng Lý và gốm trắng Tống Trung Quốc chủ yếu được nhìn nhận qua sắc độ đậm nhạt của màu men hay xương gốm và kỹ thuật chế tác. Đây cũng là đặc điểm khó phân biệt giữa gốm trắng Lý với gốm trắng Tống. Gốm thời Trần Gốm thời Trần1225-1339 có rất nhiều loại, gồm các dòng gốm men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, hoa nâu và hoa lam. > Do Gốm thời Trần1225-1339 phát triển kế thừa trực tiếp từ gốm thời Lý, nên các loại gốm thời Trần cơ bản có phong cách giống với gốm thời Lý cả về hình dáng, màu men và hoa văn trang trí. Về hoa văn trang trí mặc dù có cách bố cục hoa văn như thời Lý, nhưng về chi tiết gốm thời Trần không tinh xảo và cầu kỳ như gốm thời Lý. Dễ thấy nhất là với gốm men độc sắc, bên cạnh loại gốm trang trí hoa văn khắc chìm, thời Trần còn phổ biến loại gốm có hoa văn in khuôn trong. Tóm lại, hoa văn trên các sản phẩm gốm sứ rất phát triển ở thời Trần và nó có sự phong phú, đa dạng hơn nhiều về hình mẫu so với gốm thời Lý. Gốm thời Lê sơ Gốm thời Lê sơ 1428-1526 có các thương hiệu dòng gốm được phát triển rất rầm rộ. Điển hình nhất là gốm Chu Đậu và gốm sứ Bát Tràng Gốm sứ Chu Đậu Chu Đậu thời Lê Sơ là xã nhỏ ở huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Đây là trung tâm sản xuất gốm sứ cao cấp. Mặc dù gốm Chu Đậu đã xuất hiện từ cuối thời nhà Trần và đến thời Hậu Lê thì bắt đầu phát triển mạnh mẽ. > Hoa văn chủ đạo của gốm sứ Chu Đậu là sen, cúc dưới hình dạng phong phú; hình động vật là chim, cá, côn trùng và người. Gốm sứ Bát Tràng Làng nghề nổi tiếng này hình thành từ thời Lý, Trần. Các sản phẩm của Bát Tràng gồm bát, đĩa, chậu, ấm, bình vôi, bình hoa, gạch, ngói… ngày càng tinh xảo hơn. Men trang trí trên các sản phẩm gốm sứ Bát Tràng có phong cách đặc trưng riêng; hình dáng sản phẩm dày dặn chắc khỏe. Sản phẩm gạch Bát Tràng cũng rất nổi tiếng, dùng lát nhiều sân chùa và đường làng. Bởi thế gốm sứ bát tràng còn được đưa vào trong thơ ca “Ước gì anh lấy được nàng Để anh mua gạch Bát Tràng về xây..” Gốm sứ Việt Nam ngày nay có đặc điểm gì? Tính tới thời điểm hiện tại thì gốm sứ Việt Nam không chỉ khẳng định vị trí của mình trong nước mà còn trên thế giới. Nhiều nước châu Á, châu Âu, đặc biệt là Nhật Bản và Đông Nam Á đã nhập khẩu gốm Việt Nam với số lượng lớn. > Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã đưa ra những kết luận mới về con đường biển thông thương giữa các nước từ Nhật Bản, Việt Nam đến các nước Đông Nam Á, gọi con đường này là “con đường gốm”, thay cho tên “con đường tơ lụa và trầm hương” thường được dùng trước đây. Sự hình thành loại chất liệu sứ với các kỹ thuật sản xuất và trang trí hiện đại hàng loạt các thương hiệu, xưởng sản xuất ra đời. Tuy nhiên thì cái tên Bát Tràng vẫn khẳng định được vị trí của mình không chỉ đối với người Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Hãy cùng chiêm ngưỡng các kiệt tác gốm sứ Việt Nam thương hiệu Bát Tràng thời kỳ hiện đại hóa. Đăng nhập
Gốm là một nghề đã có từ lâu đời trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử của dân tộc, vì thế, gốm cũng đã trở thành một phần của văn hóa Việt Nam để khắc họa lên nét đẹp của cuộc sống mà chúng ta rất trân trọng. Nguồn gốc của nghề gốm Việt Nam Từ ngàn đời trước gốm đã trở thành một trong những phát minh quan trọng của tổ tiên ta còn được lưu truyền những giá trị tốt đẹp đến tận ngày nay. Đồ gốm đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân và dưới sự sáng tạo cũng như đôi bàn tay khéo léo của người thợ gốm thì những sản phẩm gốm cổ Việt Nam đã được coi như một loại hình nghệ thuật mang tính dân gian sâu sắc phản ánh đời sống của dân tộc ta. Cách đây từ sáu, bảy ngàn năm trước nghề gốm cổ truyền Việt Nam đã xuất hiện trong những di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Hạ Long... Sau đó, chúng ta tiếp tục tìm thấy đồ gốm trong di chỉ thuộc hậu kỳ đồ đá mới Phùng Nguyên, giai đoạn Gò Mun, giai đoạn Đồng Đậu,... Qua từng thời kì lịch sử đồ gốm cổ truyền nước ta đã có những bước phát triển vô cùng đa dạng và cải thiện về cả chất lượng và mặt thẩm mỹ. Theo các truyền thuyết sự đồ gốm, đồ sứ xuất hiện được ví như một điều bí hiểm, linh thiêng của đất trời chưa có lời giải khi để làm ra đồ gốm phải sử dụng loại chất bột nằm sâu trong lòng đất, ở những nơi linh thiêng có ma quỷ canh giữ thì mới thiêng. Trước mỗi lần khai thác cần phải chọn ngày lành tháng tốt như khi lấy lên mặt đất phải nhờ ánh sáng của mặt trời rọi xuống thì chất bột đó mới biến thành gốm, sứ... Từ ngàn đời trước gốm đã trở thành một trong những phát minh quan trọng của tổ tiên ta còn được lưu truyền những giá trị tốt đẹp đến tận ngày nay. Ảnh minh hoạ Đây chỉ là truyền thuyết nhưng cũng đã cho thấy tầm quan trọng của gốm sứ được nhân dân ta coi trọng. Còn trên thực tế gốm, sứ ra đời phải có sự tác động của trí óc và đôi bàn tay khéo léo của người thợ thủ công. Trong cuốn Lịch sử Việt Nam đã ghi lại “Trong giai đoạn Phùng Nguyên, kỹ thuật tạo chế đồ đá đã đạt đến trình độ cực thịnh. Những chiếc rìu, vồ đục... quy mô to nhỏ khác nhau, được chế tạo bằng cách mài, cưa khoan, rất hoàn thiện. Những vòng tay, hoa tai, hạt chuỗi... bằng đá được chau chuốt, tiện, gọt tinh vi. Những loại hình đồ gốm nồi, bát, cốc, vò... có hình dáng đẹp, chắc, khoẻ, phần nhiều đã được chế tạo từ bàn tay. Mặt ngoài đồ gốm phủ đầy hoa văn trang trí với những đường vạch sắc sảo, những nét cong uyển chuyển, mềm mại, được phối trí, đối xứng và hài hòa. Đó là một biểu hiện về óc thẩm mỹ khá cao của người Việt Nam lúc bấy giờ....” Có thể thấy vào giai đoạn Phùng Nguyên cách đây gần năm nghề gốm ở nước ta đã phát triển mạnh. Cho đến một thời kỳ của nước Văn Lang, thời Âu Lạc, kỹ nghệ gốm đã phát triển mạnh với những tác phẩm chế tác cực kì tinh xảo. Song, thời kì thịnh vượng nhất của nghề gốm là vào thời kỳ Lý - Trần thế kỷ XI - XIV. Thời điểm này, nước ta phát triển hưng thịnh, quân sự, kinh tế, văn hóa đều có những bước tiến mạnh mẽ cũng như những kĩ nghệ cải tiến. Thời điểm đó nghề gốm đã minh chứng được sức ảnh hưởng khi có mặt ở khắp các tỉnh thành, nên hiện nay ven các dòng sông người ta vẫn bắt gặp nhiều mảnh sành, mảnh gốm còn vương sót lại. Thậm chí, nhiều lò gốm sứ xuất hiện từ thời Lý - Trần mà đến nay vẫn còn hưng thịnh như làng gốm Bát Tràng Hà Nội, Quế Quyển Hà Nam Ninh, Thổ Hà, Phù Lãng Bắc Ninh, Hương Canh Vĩnh Phúc, Chum Thanh Thanh Hóa... Tuy nhiên với mỗi vùng sẽ lại có những kĩ nghệ gốm sứ riêng không trùng lặp và đặc trưng của gốm sứ ở mỗi vùng lại khác nhau đã tạo thêm sự đa dạng và phong phú cho công nghệ gốm Việt Nam. Bởi vì nguyên liệu chính của gốm là phù sa nên không có gì lạ khi các làng nghề gốm đều phát triển dọc sát các triền sông để tiện cho việc lấy nguyên liệu chuyên chở về cơ sở sản xuất. Theo tài liệu giới thiệu Lịch sử nghề gốm ở Thổ Hà của Ty Văn hóa Hà Bắc, và tài liệu Tìm hiểu nghề gốm ở Bát Tràng, tư liệu đánh máy của Viện Mỹ thuật đã ghi chi tiết như sau “Vào khoảng thời Lý - Trần có người đỗ Thái học sinh đặc biệt chức Thái học sinh thì mới có từ thời Trần được cử đi sứ nhà Tống Trung Quốc là Hứa Vĩnh Kiều, người làng Bồ Bát Thanh Hóa, Đào Trí Tiến, người làng Thổ Hà Hà Bắc, Lưu Phong Tú, người làng Kẻ Sặt Hải Dương. Cả ba ông này, khi đi sứ đã học được nghề sứ gốm. Khi về nước, ba ông chọn ngày lành tháng tốt lập đàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền nghề cho dân làng. Công nghệ có được phân như sau Ông Kiều về Bồ Bát, ông Tiến về Thổ Hà, ông Tú về Phù Lãng, và - Làng Bồ Bát chuyên chế các hàng gốm sắc trắng. - Làng Thổ Hà chuyên chế các hàng gốm sắc đỏ. - Làng Phù Lãng chuyên chế các hàng gốm sắc vàng, thẫm. Nửa năm sau nghiên cứu, chế tạo thành công, ba ông lấy các đồ gốm do tay mình chế được, dâng Vua xem. Nhà Vua thấy sản vật đẹp, liền khen thưởng các quan sứ thần bốn chữ “Trung ái Quán Thế” và phong cho ba ông danh “Khởi nghệ tiên triết”. Tục truyền, dịp này, dân làng ở ba nơi đều tế lễ sầm uất và linh đình. Sau dâng ba tuần rượu, dân chúng nhảy nhót hoan hô để biểu dương các ngài đem nghề về truyền cho dân. Sau khi ba ông mất, dân chúng ba nơi đều tôn ba ông là “Tổ sư”, tức “Tổ nghề”.” Hiện tại, ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam vẫn còn lưu giữ và trưng bày những đồ gốm, sứ của các thời đại để minh chứng cho sự hưng thịnh của đồ gốm ở nước ta. Đồng thời, đây cũng là một trong những nghề chiếm vị trí quan trọng trong việc pgast triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Qua đó, những thế hệ sau sẽ có cái nhìn toàn diện và rõ nét về một nét văn hóa cực kì tinh tế của văn hóa Việt Nam. Hiện tại, ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam vẫn còn lưu giữ và trưng bày những đồ gốm, sứ của các thời đại để minh chứng cho sự hưng thịnh của đồ gốm ở nước ta. Ảnh minh hoạ Một số làng gốm truyền thống nổi tiếng Việt Nam 1. Làng gốm Bát Tràng Làng gốm Bát Tràng xuất hiện vào khoảng thế kỷ 15, ngay bên cạnh dòng sông Hồng phù sa đã quá nổi tiếng và còn lưu truyền hoạt động đến tận ngày nay. Lúc đó, Bát Tràng là một gò đất cao gần cạnh sông thuận tiện cho việc đi lại và lấy nguyên liệu cho làng gốm. Trải qua nhiều biến cố lịch sử làng gốm Bát Tràng vẫn tồn tại và ngày càng phát triển. Hiện nay, làng gốm Bát Tràng nằm tại xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội đã trở thành một địa điểm được nhiều người ghé thăm để trải nghiệm những hoạt động làm gốm vô cùng thú vị tại đây. 2. Làng gốm Chu Đậu huyện Nam Sách, Hải Dương Đây là một trong số các làng nghề gốm sứ Việt Nam xuất hiện sớm nhất và cực kì nổi tiếng, nhắc đến cái tên Chu Đậu mọi người sẽ nghĩ ngay tới những sản phẩm được xuất khẩu ra nước ngoài. Làng gốm Chu Đậu thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương được dựng nên vào thế kỷ 13 và phát triển mạnh từ thế kỷ 14. Sau đó đến thế kỷ 17 chiến tranh liên miên đã khiến làng gốm này đã bị suy tàn và thất truyền. Phải đến năm 2001, gốm Chu Đậu mới được nghiên cứu và nỗ lực phục hồi các chất men, kĩ thuật, kiểu dáng đã trở thành một dấu ấn chuyển mình tiếp tục viết lên thời hoàng kim cho làng gốm Chu Đậu. Đặc trưng của gốm Chu Đậu là mang hơi hướng giá trị Phật giáo và Nho giáo trong từng sản phẩm, đây cũng là nét chấm phá và đặc điểm để nhận diện gốm Chu Đậu so với các làng gốm khác. 3. Làng gốm Phù Lãng huyện Quế Võ, Bắc Ninh Làng gốm Phù Lãng thuộc huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tồn tại song song cùng thời với làng gốm Bát Tràng. Tuy nhiên, các sản phẩm ở đây chủ yếu là những sản phẩm gia dụng được tạo hình thủ công trên bàn xoay bằng đất sét nguyên bản. Điểm khác biệt của làng gốm Phù Lãng là lớp men da lươn chỉ sử dụng men nâu, nâu đen, vàng nhạt, vàng thẫm… Màu men của gốm Phù Lãng cực kì bền vì dùng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong. 4. Làng gốm Thanh Hà Hội An Làng gốm Thanh Hà tại Hội An có tuổi đời khoảng 500 năm nơi đây nổi tiếng với các sản phẩm gốm đất nung bền đẹp. Nguyên liệu để làm nên các sản phẩm gốm ở đây chính là đất sét nâu dọc sông thu Bồn có độ dẻo và kết dính cao. Phần lớn các sản phẩm của làng gốm Thanh Hà đều có màu cam thẫm, nâu đỏ nhẹ và xương gốm xốp rất tinh xảo. 5. Làng gốm Thổ Hà Bắc Giang Ra đời và phát triển cùng thời với làng Bát Tràng làng gốm Thổ Hà có nét khá tương đồng với làng gốm Phù Lãng. Tuy nhiên, gốm ở đây không dùng men mà được nung ở nhiệt độ cao tự chảy men và thành sành. Các sản phẩm gốm thường có màu nâu sẫm, một sắc tím than trầm. Khi gõ vào sẽ nghe tiếng coong coong cứng như thép gang, các sản phẩm của gốm Thổ Hà cực kì bền khi được làm từ đất sét vàng, sét xanh, ít sạn và tạp chất nên dễ dàng tạo hình theo ý thích. 6. Làng gốm Phước Tích Thừa Thiên – Huế Đối với làng gốm Phước Tích các sản phẩm được làm chủ yếu từ loại đất sét màu xám đen, khá dẻo và dính với những hoa văn, chi tiết đơn giản. Đặc trưng của làng gốm Phước Tích là người thợ tạo hình thô sơ như thêu, nền đất, bàn chuốt, bàn xoay... Trước đây, gốm Phước Tích chuyên dùng để phục vụ cho Hoàng gia nhà Nguyễn nhưng về sau đã bị suy tàn nên hiện nay đang được nỗ lực khôi phục theo hướng sản xuất mỹ nghệ để nghề gốm tại đây không bị thất truyền đáng tiếc. Nghề gốm đã trở thành một nghề cao quý trong lịch sử cho đến hiện tại, không thể phủ nhận những giá trị văn hóa nghệ thuật mà gốm sứ mang lại. Ảnh minh hoạ Nghề gốm đã trở thành một nghề cao quý trong lịch sử cho đến hiện tại, không thể phủ nhận những giá trị văn hóa nghệ thuật mà gốm sứ mang lại. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần phải giữ gìn và phát huy các giá trị của gốm sứ Việt Nam tránh việc nghề này bị thất truyền.
gốm sứ việt nam qua các thời kỳ